Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010

Tri nghiệm Sấm Trạng Trình- Lý học Càn Khôn- Chiêm thời

Chiêm thời...............................................

1*-

Nhìn vào Thế giới xưa nay
lại xem dịch khí vần xoay bốn mùa
ngàn năm thoắt đấy lạ chưa
khác đâu cơn gió thoảng vừa mới qua?
*
Ai hay hỗn độn thiên hà
thổ nghiêng tây bắc thủy hoà đông nam
(1)
dịch trời nào phải dị đoan
đô tòng bác phục
(2)- có bàn mới nên...
luận ra từ thuở tiên thiên
(3)
thiện tòng tuệ giác Rồng Tiên mà thành
hào càn tính định “nguyên hanh
(4)...”
phi nhân hữu lận
(5)” vốn dành cho khôn
âm dương đắp đổi dập dồn
vô thiên
(6) quấy đảo đau buồn lắm thay!

----------------------------------------------------------------(lt.ltt)

Chú thích:(1) Dịch viết: hỗn độn xuất từ thái cực mà sinh lưỡng nghi tức âm dương... mà sinh vạn vật, buổi đầu Trời đất liền nghiêng về Tây Bắc mà trống về Đông Nam;(2) Quẻ Bác và quẻ Phục là hai quẻ kinh dịch phân kỳ chu trình sinh diệt của tạo hóa;(3)Tiên thiên bát quái:nguyên lý khuông hình thái dịch vũ trụ bất biên;(4)Dịch viết: càn: nguyên hanh lỵ trinh, tức quẻ càn luôn đầy đủ cương kiện có sức mạnh, làm lợi cho muôn vật, tinh khiết trong sáng, hàm chứa muôn sự tốt đẹp;(5)Phi nhân hữu lận: bất nhân, tráo trở, tối tăm, một thuộc tính của quẻ khôn;(6) Vô thiên: những kẻ không coi có trời, đất thần thánh, luôn bạo hành ngược chống lại nhân nghĩa lễ trí tín.

----------------------------------------------------------------(lt.ltt)

2*-

Mắt người hoang giữa ban ngày
rõi theo thái cực
(7) mà day dứt lòng...
trời làm sấm chớp bão giông
con người khó thoát khỏi vòng lao đao
túy ngâm nọ chén bồ đào
(8)
niềm này dứt nẻo kẻ vào chẳng ra
tang tình tích tịch tình ta
dương suy âm thịnh
(9) khó mà tiến lui?
*
Thiên cung có một động trời
(10)...
Thánh nhân đã dạy gắng ngồi thì yên
nhớ rằng vận ấy đen tuyền
chỉ vương núi lĩnh
(11)- nhập nhèm bấy nay
tam sơn thượng đỉnh cao dày
(12)
sinh thương đỗ cảnh
(13)- loay hoay một mình

rằng tìm đư ờng đến cửa sinh
phải theo cửa tử- hào đình mà ra
(13)...

........................................còn nữa

----------------------------------------------------------------(PVH)

----------------------------------------------------(lt.ltt)

Chú thích:(7)Thái cực trong câu này cũng có ý nghĩa nguồn gốc sinh ra hoạn nạn; (8)Rượu ngâm vào chén đắng, ngạn ngữ “đắng như ngậm bồ hòn”;(9) Dương suy âm thịnh:thời loạn lạc tranh hành, điều hay lẽ phải bị bức hiếp;(10) ám chỉ “vận” do trời tạo ra, cũng tựa như động trời có chỗ để tránh, ng văn “còn hồ tạm trú đồng thiên cung”;(11) ng.văn lời Sấm “chỉ vương núi lĩnh nên trời khuất, khuất núi sông reo mới phải đi”: là nói Quỷ vương núi Lĩnh, đọc chệch đi tránh tiết lộ thiên cơ, thành ra “chỉ vương”;(12) Tam sơn thượng đỉnh: chỉ dãy núi Ba Vì Tam Đảo ở vùng Vĩnh Phúc Sơn Tây;(13) Tám cửa trong Bát trận đồ:hưu sinh thương đỗ cảnh tử kinh khai, muốn phá trận phải đánh từ cửa tử, vào trung quân rồi đánh sang cửa sinh, ý là một trận tử chiến mới phá được giặc.

----------------------------------------------------------(lt.ltt)

Thứ Năm, 10 tháng 6, 2010

Con Lạc Cháu Hồng- Con Rồng Cháu Tiên!

Việt Phù Kinh
Nhân kỷ niệm 1000 nămThăng Long
Phạm vũ Hội
Ngày đầu xuân 2010- Canh Dần-
Phú luận về Kinh Dịch
-------------------------------------------------------

Người Việt ai cũng nghe nói tới Kinh Dịch? một triết học cổ Phương Đông. Nguyễn Thiếu Dũng cho rằng vị sứ giả hiển hiện trên trống đồng thuần Việt (tc-xưanay tết Mậu Tý). Theo Ngô Tất Tố biên khảo dịch từ sách Tàu- thì Kinh Dịch có từ Phục Hy (thủy tổ giống người da vàng phương Nam) cách nay hàng vạn năm..(?) sau đến Tây Chu (bên Tàu)- khoảng 1100 năm TrCN, Vua Văn Vương mới đặt tên Quẻ- chua ý Quẻ: gọi là Thoán, đến Chu Công (con trai Văn Vương) lại viết thêm ý hào từ... Tiếp đến KhổngTử (551-trCN, nước Lỗ) lại soạn ra 6 thứ: tượng, văn, hệ, thuyết, tự, tạp (+quái)... Người Trung Quốc đã phát triển Kinh Dịch và dụng để Chiêm sự thế theo cách “bói dịch” (tức suy đoán) còn cách dụng như thế nào bớt “tùy biện” đi, thì không có sách nào chỉ một cách tường tận hoặc cố định. Cho nên chỉ cần hai kí ngôn vạch-chấm (dương- âm) mà có thể viết và luận bình ra thiên kinh vạn quyển, rất thú lạ! Bàn về nguồn gốc thì cứ nói thuộc Trung Quốc, nhưng “xét về biến cố lịch sử và hình tích Văn hóa Đông Sơn” thì ta thấy có lẽ xuất xứ gốc Kinh Dịch là của Việt Nam từ thời Hồng Bàng mà Kinh Dịch là bảo khí của Kinh Dương Vương- Càn chi- thủy tổ Việt- Ngài húy là Lộc Tục, anh của Lộc Linh, vốn có tài biến hóa, không tham đất rộng, nhường cho Lộc Linh làm vua phương Bắc, còn mình chỉ làm Vua phương Nam từ Động Đình Hồ dọc Trường Giang trở xuống... (PVH).
-------------------------------------------------------------------------


“Gẫm” trong Sấm vọng lưu truyền
lần theo con tạo gắng tìm tuệ kinh
“cửu thiên”(1) sáng rạng cung đình
“nhật hồng ”(1) sao lại minh minh mù mù
“Cơ trời lâm trận mê đồ” (2),
khốn thay non Việt dị hồ ngửa nghiêng?
**
mấy ai “xét” việc thiên niên
mà không sử sách khui tìm thiện căn
mấy ai hóa giải kiến văn
mà không kiến giải lê dân bụi lầm
dạy rằng “ôn cố tri tân” (3)
nhìn xa thửa lối... nhìn gần thửa đi...
ví như tiếng vọng ầm ì...
chân trời mây phủ liệu thì bão giông..?
ví như mưa gió bịt bùng
nắng xiên... ắt có cầu vồng thất tinh..?
phút giây vẫn bảo là nhanh
triệu năm một khắc vô tình bỏ qua..?
chẳng ai không trẻ đã già
âm dương thái dịch sinh ra trạng hình...
**
mới hay chung? thỉ? ngọn? ngành?
mà nên Bát Quái- Dịch Kinh lưu truyền
đã nghe luận giải thì- phen
ngọn nguồn Kinh Dịch vẫn tìm chưa ra
rằng Kinh Dịch của Trung Hoa
nhưng sao gốc tích lại là Việt Nam?
đem ra kiến giải luận bàn...
tưởng như vớt giải khói loang lam chiều?
nghiêng ly cụng cốc vèo vèo
bao năm trắc dịch suy siêu lạc loài
tầm nhìn đích ngắm đà sai
một ly một dặm chệch ngoài biển xa?
Có gì phân biệt tàu ta
lấy gì để nói của nhà thửa nên?
chiều tà phủ bóng đêm đen
còn kia Chim Lạc lộ then Rồng Vàng!
**
“Nước non từ (from)thuở Hồng Bàng
bể dâu cuộc thế giang sang đổi vần
Trải Đinh Lê Lý Trần giữ nước...
đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
đồ thư một quyển xem nay mới rành
Hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành”(4)
**
lật trang sử chiến dã tranh
mấy ngàn năm trước tung hoành ra sao?
Cho hay sóng vỗ ba đào
màn thâm sơn thủy thấp cao lại về...
Đông nam tây bắc phân kỳ
quốc gia sinh? diệt? quần nghi “dê đàn”...
một Tần khởi (from) đất Hàm Dương
giới biên ngót triệu kilô- vuông sở hùng
kiếm côn bá đạo bão giông
tính kiêm sáu nước(5) vẫy vùng dọc ngang
lập ra Hoa Lục Trung Nguyên
trải bao triều đại thay quyền đọat ngôi
ngàn năm bành trướng chuyển rời
mà nay (to day) rộng lớn gấp mười lần hơn!?
nghề ăn cướp được suy tôn?
ấy nghề ăn cướp chiếm chôm đất- người..!
ngỡ câu khái quát nực cười
mà là sự thực muôn đời đẻ ra...
thưa rằng văm minh Trung Hoa?
thì văn minh ấy chỉ là... lăng xâm!
(bây giờ-present, là một Trung Quốc ngót 10 triệu km2,
dân số~ 1,3tỷ). Biết rằng:
xưa quen bá đạo đồ vương
anh hùng gây cảnh chiến trường mà nên
mấy ai hiểu được căn nguyên
phải là: dân ý- nhân quyền- tự do!
**
lại xem đất Việt người Nam
địa danh Lưỡng Quảng Giang Nam có thừa?
hơn ba triệu kilô-vuông xưa
bao phen loạn lạc gió mưa hoành hành
ngàn năm chống chọi bắc xâm
cụm về cố thủ Cửu Chân- Tống Bình(6)
xưng danh con Lạc cháu Hồng
mười lần nhỏ lại muôn phần xót xa?
(nay-to day, chỉ là một Việt Nam hơn 300 ngàn km2 đất, dân số 80 triệu)
thời gian chẳng trẻ chẳng già
vẫn còn khói lửa trên toà Luy Lâu(7)
hỏi ai? Ai? cướp của nhau
cảo văn? thư khố? ...ngọc châu ai giành?
cướp của người làm của mình
vốn nghề xâm lược đã thành thói quen...
tài năng cẩm tú thì- phen
còng tay- khóa- trói bắt đem công triều
thông tin bịt miệng đủ điều
cướp cướp? mất mất? bấy nhiêu phũ phàng..?
Ví như cung điện Thiên An(8)
của người Nam Việt Đình làng chế ra...
miệng đời nói ấy Trung hoa
sao không biết nói của ta đình làng?
trống đồng ta đánh lừng vang
làm sao chống được bạo tàn lắm phen
cho nên Nam Bắc trắng đen?
Kẻ quen ăn cướp... Người quen chạy dài...
ngàn năm xưa- dám nói sai?
chứng nhân- chứng vật- hình hài huyết chi..!?
giặc vào lấy hết... đem đi...
Dịch Kinh- Quốc Bảo nghiệm suy cũng là...
**
Than ôi khí vận yên hà!
hồn xửa trắc ẩn thấm xa muôn trùng
Tàng thư Nam Việt rỗng không
chỉ còn khắc quẻ trống đồng(9) làm tin...
đầu Càn “hanh lợi nguyên trinh”
Lý Càn- Nhân- Cách(10) dưỡng sinh giống nòi
ngữ ngôn “vật khí” thay lời
Đồng nhân quây lấy mặt trời đúng tâm
biểu nghi Chấm- Vạch(11) làm vần
“thụ căn diểu diểu” dương âm lập trình
cơ quyền còn chút kiện hanh
tự tôn mười tám bản danh công đường
Càn Vương tức Kinh Dương Vương
chữ đầu tiên khởi cội nguồn nước Nam
Cách nay hơn: năm ngàn năm..?
là người biến hóa tiếng tăm lẫy lừng
Khảm Vương là Lạc Long Quân
thuận hành bát quái... thuộc vần cửu cung
lại xưng... Giáp Ất... đủ vòng...
làm thành mười tám đời Hùng(12) nối nhau...
(Lần lượt- 8tự quái: Càn Vương, Khảm Vương, Cấn Vương, Chấn Vương, Tốn Vương, Ly Vương, Khôn Vương, Đoài Vương...
;10 thiên can:Giáp Vương, Ất Vương, Bính Vương, Đinh Vương, Mậu Vương, Kỷ Vương, Canh Vương,Tân Vương, Nhâm Vương, Quý Vương)
thần cơ dịch số cơ màu
“sa phù dĩ chỉ” đời sau chớ lầm...
Rõ ràng “mộc biểu thanh thanh”
“thập bát tử thành”(18) tiên tổ đã gieo?
“toàn thư sử ký” (13) cũng nêu
“đông a nhập địa”... gặp nhiều tai ương!
cho hay khí dịch đoạn trường
phải chờ “ma quỷ dọn đường” (14) loé ra..?
**
Xem thêm dã sử nước nhà
“Lĩnh Nam chích quái” (15) truyền qua miệng đời
dân man hay bị lọc lòi
quỷ ma xâm hại buông lời rủ rê
Long Quân thường phải trở về
cứu dàn con dại trăm bề khốn nguy
diệt xương cuồng diệt hồ ly(16)...
nạn từ phương bắc chi chi... thực thà...
**
ngàn năm xưa ngỡ rất xa
chẳng qua khép lại bóng qua một ngày
luận thời ai biết ai hay
tháng năm con cháu ngày rày đã quên..!
văn nhân sĩ tử mọi miền
hãy đem chớp mắt nối liền ngàn năm
mới hay Kinh Dịch trữ tàng
gốc từ bảo khí Hồng Bàng Rồng Tiên!?
----------------------------------------------------(P.V.H)*

Chú thích: (1)Nguyên văn Sấm Trạng: “Sáng cửu thiên ám vầng hồng nhật- 創九 天暗彙紅日”- trên trời sáng mà trần gian hàng ngày sao tối tăm thế!; (2)Sấm Trạng: ý nói trời mở cơ làm thiên hạ mù mịt, không rõ lối mà đi, người dân như lâm vào mê cung; (3)Lời dạy của Khổng Tử :“ôn cố tri tân, khả dĩ vi sư- 瘟故知新 可以為師”: thông hiểu sử sách, việc cũ để biết cách thức hệ quả... nên làm thời nay, việc mới ra sao? thì có thể làm thày; (4)Một đoạn mở đầu trong một bài Sấm Trạng Trình; (5)Năm 221TrCN Tần Thủy Hoàng kiêm tính 6 nước gồm: Sở, Tề, Triệu, Ngụy, Hàn, Yên- thống nhất Trung Quốc quy mô khoảng gần 4 triệukm2; (6)Cửu Chân chỉ Thanh Nghệ ngày nay;Tống Bình chỉ đất Hà Nội tên gọi thời cổ khoảng năm 800 TrCN; (7) Luy Lâu tên cổ chỉ Bắc Ninh ngày nay; (8)Cung điện lớn nhất của Trung Quốc xây dựng vào thời Minh khoảng thế kỷ XIV, do Nguyễn An- một thợ cả tài hoa của Việt Nam bị giặc Minh bắt- ông làm tổng công trình sư thiết kế và xây dựng (cùng hàng vạn thợ thủ công khéo tay, các thầy thuốc giỏi, nhântài, và con gái đẹp... bị bắt về phương bắc, lại cho mang đi hoặc đốt hết tàng thư di cảo Việt Nam và nhiều việc bẩn thỉu khác..); (9)Bát Quái được cho là đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ- Hoàng Hạ thuộc văn hoá Đông Sơn Việt Nam, các nhà khảo cổ tìm được ở Thanh Hoá, đồng bằng Bắc Bộ; (10) Trên trống đồng có khắc các quẻ Thuần Càn, Đồng Nhân, Cách- đúng như nhà NC Nguyễn Thiếu Dũng xác định; (11)Thực chất ký quái đầu tiên là Chấm và Vạch, biểu nghi hai khí Âm- Dương, khi viết nhuận tay hơn, nhưng sau này người ta (có thể là Văn Vương) thấy nét chấm dễ bị mờ khuyết, mới đổi chấm sang vạch đứt; (12)Theo phả tịch Đền Hùng còn ghi đến nay đủ 8 quái và 10 thiên can; khởi từ Kinh Dương Vương tức Lộc Tục ở ngôi 86 năm, truyền không rõ bao đời (từ Nhâm Tuất 2879tr.CN tới Đinh Hợi 2794tr.CN) miếu hiệu Chi Càn Vương là chi đầu ngang với thời Tam Hoàng cổ đại ở phương bắc; Hùng vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương (từ Quý Dậu 408tr.CN tới 258tr.CN) miếu hiệu Chi Quý vương, ngang với năm thứ 17 đời Uy liệt vương và năm thứ 56 đời Chu Noãn vương nhà Đông Chu (biết rằng thời Hùng Vương vẫn sùng đạo Mẫu hệ nên có cách “truyền ngôi theo huyết thống trực hệ và- huyết thống liên chi”- tức là khi truyền theo trực hệ mà hết người nối rõi, thì tìm người chi khác mà truyền để tiếp tục, do vậy một đời Vua Hùng mới hàng mấy trăm năm kéo dài... mà các sử gia thời hiện đại không lý giải được rồi cho là không có cơ sở? than ôi sử gia mà không biết gì cả vậy! buồn thay, buồn thay!!). . Để chống lại giặc Bắc Tần Thủy Hoàng, và nghe lời Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn (con rể Vua) nhằm đoàn kết nội bộ Vua (Hùng Duệ cuối cùng, chỉ sinh con gái) đã nhường ngôi cho Thục Phán, là cháu trong nội tộc đang làm bộ chúa Tây Vu. Thục Phán, cảm kích làm cột đá thề giữ vững sơn hà xã tắc đời đời thờ phụng các vua Hùng; rồi lập nước Âu Lạc đóng đô ở Cổ Loa và lên ngôi, xưng là An Dương vương. (13)Sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, viết vào thời Lê Thánh Tông (1460-1497); (14)Sấm Trạng Trình nguyên văn “trời sinh lũ quỷ dọn đường, để cho thánh xuất khảm phương sau này”; (15)Lĩnh Nam chích quái: truyện cổ dân gian Việt Nam tác giả là Nguyễn Qùynh và Kiều Phú biên soạn vào thế kỷ XV có viết “Than ôi! Lĩnh Nam liệt truyện có phải chỉ riêng khắc vào đá, viết vào tre, mới là quí hơn bia miệng đâu? từ đứa trẻ hoi sữa đến cụ già bạc tóc, đều truyền tụng để tỏ lòng yêu dấu, để tỏ ý chê trách thì tất là có quan hệ tới cương thường phong hóa..!”; (16)Truyện xương cuồng tức là Mộc tinh, Hồ ly tinh, Ngư tinh, là những truyện trong Lĩnh Nam nói về công lao của thuỷ tổ Việt Nam.
-------------------------------------------------------------------------(PVH)*

Phạm vũ Hội:
Truyện phụ thêm:

Đã từ lâu, nhiều người cứ băn khoăn về câu hỏi tại sao xưa các “bậc Nam kiệt” cứ gọi người phương bắc, các “bậc hảo Hán” tức người Tàu là “Các chú”- lúc sẵng giọng thì “ôi dào! bọn các chú” có nơi chuyển âm thành “cắc chú”, chê họ thâm hiểm; Lại nhớ rằng hồi nhỏ nghe các vị túc nho rành rọt chữ nghĩa kể về chuyền tiên tổ Hồng Bàng mới biết rằng sở dĩ gọi như vậy là vì người Nam và người Bắc vốn tổ tiên xưa cũng là anh em, mà người Việt là anh và người Tàu là em đích thị. Cụ thể là cháu ba đời của Viêm Đế- Thần Nông theo lệnh trời, và cha mình làm Vua toàn cõi, khai sinh loài người, theo lời cha dặn dạy giống người da vàng phương đông trồng lúa- Ngài Biểu danh là Đế Minh. Ngài lấy bà Vụ Tiên- một vị nữ tiên ở thượng giới, sinh được hai người con trai, lớn là Lộc Tục, nhỏ là Lộc Linh. Khi già về trời, Đế Minh định truyền ngôi cho con trưởng là Lộc Tục, làm vua phương Bắc, cho Lộc Linh làm vua phương Nam. Nhưng Lộc Tục nói với cha, phương Nam nóng nực, có nhiều chướng khí, đất đai hẹp hơn, dân sự ít lại ham chơi, xin nhận khó khăn làm vua thay em, để Lộc Linh kế ngôi ở phương Bắc, đất đai rộng lớn, dân sự phồn thịnh hơn, thuận tiện cho em hơn. Đế minh cho là người nhân hậu, ngài chấp nhận. Sau đó Lộc Linh lên ngôi làm vua phương bắc, trông coi từ tả ngạn sông Trường Giang trở lên, lấy hiệu là Đế Nghi. Lộc Tục làm vua phương Nam, từ hữu ngạn sông Trường Giang trở xuống, thủ phủ ở Động Đình Hồ, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, Miếu hiệu là Càn vương, Ngài hay đi đây đó, sống rất phóng túng, biến hóa không biết đâu mà lường. Ngài lấy con gái Thần Long Động Đình hồ mà sinh ra Sùng Lãm, Lãm kế ngôi, tự xưng là Lạc Long Quân, tài giỏi như cha, đi dưới nước như đi trên cạn, Miếu hiệu là Khảm vương... nghi biểu theo quái dịch. Sau Lạc Long Quân lấy con gái Thần Núi Đế Lai là bà Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng nở ra trăm người con trai... là tổ tiên người thuần Việt ngày nay...
Nhiều lần tôi kể lại và giải thích cho mọi người nghe, cố tìm trong sách để dẫn, nhưng các sách thông sử thời nay viết về Hồng Bàng thị lại nói, Lộc Tục là em, Đế Nghi là anh? thậm chí không có cả cái tên “Lộc Linh”. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” của Viện Văn học giới thiệu- 1965, tái bản lần thứ 2 năm 2004- nhà xuất bản VHTT; Sách “Lĩnh Nam chích quái” xuất bản 1990- nhà xuất bản văn học, cũng nói vậy! tôi cứ băn khoăn mãi!.. Tết 2010, đi du xuân, thắp hương Đền Hùng, tôi mua quyển “truyền thuyết Hùng Vương- thần thoại vùng đất Tổ” do Vũ Kim Biên sưu tầm biên soạn, xuất bản 2008, tôi thấy câu chuyện trở lại đúng với truyện hồi nhỏ tôi được nghe... Vậy là hơn 50 năm mới thấy mình không phải là ốc xạo với bạn bè con cháu. Ôi! Dã sử vẫn có giá trị ở chỗ đó! thiện tai, nam mô phật!.
-------------------------------------------------------------------------------------------(PVH)

Phạm Vũ Hội

Sấm Trạng Trình:thiên cơ tuy bất tiết, bất tức đắc ngôn nhiên
天幾雖不絏不息得言然,
xin hiểu là:
thiên cơ tuy không được tiết lộ, nhưng thực chất có thể...
nhưng không tiết lộ theo cách nói thông thường”


Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình
có bài ca chiêm rằng:
---------

À.. ơ!
chừng ai qua đất Thương Khâu(1)
xuôi về Đông Hải(2) nhắc nhau đôi lời
mênh mông biển cả đầy vơi
dây văn dây vũ... rạch ròi đã quen...
hóa phong thắm đỏ hoa đèn
thiên cơ dịch khí mọi miền đã gieo
bão giông ai vững tay chèo
“đáo tầm sử địa...”(3) căng lèo thửa nên...

“đế cư định tại thư thiên” (4)
sơn hà xã tắc tổ tiên khơi dòng...
vẫn thì núi Tản non Nùng(5)
mười tám Đời Hùng cháu cháu con con...
chữ rằng: non nước nước non
tổ tiên tiên tổ(6)...mãi còn dài lâu
À ơ!
dù ai buôn đâu bán đâu
đến ngày giỗ Tổ bảo nhau mà về(7)
dù ai vàng ngãi bộn bề
nhớ cha nhớ mẹ mau về hỡi con..!
À.. ơ!
“nó lú thì chú nó khôn” (8)
một vầng sinh thái vẫn luôn tươi nhuần
“nguyên hanh trinh lỵ” (9) - dụng tâm
“trí tri cách vật” (10) hồi lần mới ra
chừng ai dấy loạn can qua?
chừng ai quấy đảo sơn hà đòi phen?
hải hồ sửa cấy giáp tên
cơ quyền lắm bận chinh yên đã từng(11)...
À.. ơ!
vang vang ấy tiếng trống đồng
âm âm ấy tiếng binh nhung dậy trời
“tốn” cung ấy chốn à ơi...
từng phen triệt phá chôn vùi bóng “khôn”
quái trời nắng gió tròn vuông
“tốn khôn” (12) ngũ quỷ chuyện buồn lắm thay!

mấy phen mặt dạn mày dày
hùng binh xâm phạm thửa ngay bóng chồn(13)
bon chân ngựa đá tung bờm
Kim Âu non Việt phú thơm để đời(14)
bằng chừ! chén rượu làm vui
chả chi thù tạc dập vùi mà thương!

đừng nên bá đạo đồ vương
thửa sinh cái nết chết trương chẳng chừa(15)...
biển Đông vốn vẫn biển xưa
dịch Nam khí Bắc gió lùa vẫn Nguyên(16)
ngõ hầu từ thuở tiên thiên
một vùng Đông Á nghề riêng cũng từng...
cờ đi xe chạy thì hung
anh hùng lại nẩy anh hùng thì phen...
chỉ buồn con đỏ con đen(17)
nghiêng trời lệch đất nổi chìm khốn thay
xanh kia thăm thẳm cao dầy
cuồng phong chiến nọ trận này vấn vương
À.. ơ!
rày ai gây cảnh chiến trường
người thua kẻ thắng mối giường lặng đau(18)
ngàn năm trước ngàn năm sau
vẫn là hai tiếng: hây tàu..! hầy ta..!
vẫn là Trác Việt- Lục Hoa(19)
vẫn là khí mạch sơn hà rạch ngang...
hỏi ai thấu lý Khôn Càn(20)
cát hung phù dịch mênh mang cõi trời
chỉ khi nhắm mắt lìa đời
mới hay thiên mệnh vận thời song song...
“kê lai hầu đáo...” (21) thửa chưng
“chính kỳ phân vị... ” (21) cũng mong rõ ràng...
nhắn ai uống nước nhớ nguồn
“nuôi ong tay áo” (22) thì buồn lắm thay!
“cáo trong nhà” (23) đấy vẫn đây
sáu trăm năm cũ chửa hay cũng đành
“ưng phòng hậu họa...” (24) phù kinh
lời truyền nhắn nhủ hư danh chớ màng
À.. ơ !
“nước non từ thuở Hồng Bàng
bể dâu cuộc thế...” (25) tính toan cũng nhiều
cũng nhiều cũng bấy cũng nhiêu
Bắc Nam chiến họa... ai điều họa ai?
Sấm rằng:
“Nước Nam thường có thánh tài(26)...
Sơn hà vững đặt mấy ai tỏ tường
Kìa Nhị Thủy(27) nọ Đao Sơn(28)...
Bãi Ngọc(29) đất nổi Âu Vàng(30) trời cho...

Học cách vật(31) mới dò tới chốn...
chép ghi làm một bổn xem chơi
muôn việc cũng bởi tại trời
suy thông mới thấy sự đời nhường bao!”
----------------------------------------------------------(P.V.H)

Chú thích: (1)-Thương Khâu- một địa danh ở nước Lỗ (TQ) 770-450 tr.CN, thời Xuân Thu, nay thuộc đất Trịnh Châu. (2)- Đông Hải- tức Biển Đông thuộc Việt Nam ngày nay, trước gồm cả đảo Hải Nam từ thời Triệu Đà Lập nước Nam Việt- xưng Nam Việt Vũ Vương 207trCN, thời Tần Nhị Thế gồm cả vùng Lĩnh Nam. (3)- Sấm Trạng nguyên văn: “hữu tình hữu thủy thực chi danh, mã ngưu chi tuế thị rành rành, can qua trư thử giang đông xuất, đáo tầm sử địa ngộ minh quân- 有 情 有 始 食 之 名.馬 牛 之 歲 視 伶 伶.干 戈 豬 鼠 江 東 出.到 尋 史 地 悟 明 君- hiểu rằng có tình có nghĩa đó là chính danh, tức có nguồn cơn thì ai ai cũng đã biết; từ năm 2002 tới 2009 đã bắt đầu đôi co thấy rõ, can qua 2007- 2008 chiến tranh xuất hiện (giữa VN và TQ về biển Đông)- chỉ có ngược dòng lịch sử mới phân định được trắng đen phải trái vững chủ quyền minh quân sáng suốt (4)- Nguyên văn: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư, hiệt nhiên phân định tại thiên thư, như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư- 南國山河南帝居 .頁然分定在天姐 .如何逆鹵來侵犯 .女等行看守敗噓-Là tuyên ngôn đầu tiên của Việt Nam, được cho là của Lý Thương Kiệt, một danh tướng thời Lý (1010-1225). (5)- Núi Tản tức núi Tản Viên có thờ Thần Tản Viên một thượng đẳng thần khai sinh nước Việt- ngài tên thực là Nguyễn Tuấn cũng tức là Sơn Tinh; non Nùng là đất Hà Nội ngày nay. (6)- Lấy ý từ câu đối của nhà thơ Tản Đà “Tiên tổ tổ tiên tiên tổ cũ; nước non non nước nước non nhà” dâng lên Đền Hùng nhắn nhủ rằng: tiên tổ nước non là một sự thống nhất có ngọn nguồn. (7)- Nguyên văn: ca dao “dù ai đi ngược về xuôi, nhớ về giỗ Tổ mồng mười tháng ba, dù ai buôn bán đâu xa, nhớ về giỗ Tổ tháng ba mồng mười. (8)- Ngạn ngữ Việt: ý nói người này có kém cỏi bất tài nhưng còn người khác chẳng kém cỏi như thế! Anh kém thì... em chăng? Già kém... thì trẻ chăng? (9)- Chỉ “tính dịch” của quẻ Càn nguyên văn: “Càn, nguyên hanh lỵ trinh- 乾元亨利貞“ quẻ đầu tiên trong bát quái (quái cũng gọi là quẻ). (10)- hai điều trong tám điều (bát mục tam cương) do Đức Khổng Tử nêu dạy, mà con người cần nắm bắt tự tu; Trí tri: là sự biết và sự hiểu đến cùng tận; Cách vật: là nắm được quá trìng vận động, trạng thái sự khởi đầu và kết thúc của muôn vật muôn việc... (11)- Nước Việt Nam từ khởi Tổ Kinh Dương Vương- Lạc Long Quân nhiều phen chống xâm lược đếu chủ yếu họa từ phương Bắc, khí Bắc nhưng gặp dịch Nam đều được hóa giải. (12)- Tốn, cư cung của Việt Nam, Khôn, cư cung của Hán Hoa, theo quái dịch Tốn- Khôn sinh ngũ quỷ, Tốn hoá giải được Khôn nhưng hay bị Khôn làm hại... Lịch sử minh chứng từ xưa y mực hệt. Người Trung Quốc xân lược phương Đông phương Nam thì không thể vững, Asean đoàn kết có thể đánh bại các ý đồ bất thiện của Trung quốc muốn bá chủ bá quyền, muốn biến các nước nhỏ thành sân trước sân sau của mình. (13)- Giặc phương Bắc kéo xuống phương Nam thường bị đánh và bỏ chạy. (14)- Thửa ý theo câu thơ của Vua Trần Nhân Tông “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, sơn hà thiên cổ điện kim âu- 社則兩回勞石馬 .山河千古殿 金甌”. (15)- Các nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay chủ trương bá đạo trong thời kỳ mới với một nền kinh tế và quân sự hùng mạnh trong điều kiện cực quyền với từ ngữ che đậy “trỗi dậy hòa bình” sẽ là một sai lầm dẫn tới phát xít hóa làm hại chính dân tộc minh. (16)- khí lạnh từ phương bắc “địa khí” tràn xuống phương nam gặp khí nóng “thiên khí” hóa dịch bệnh, chủ họa hại hủy diệt, biến ngẫu. (17)- Con đỏ con đen: ám chỉ lê dân, bách tính, trăm họ, trong sự trói trịt của pháp trị cực quyền. (18)-người dân bị kẻ cầm quyền ra lệnh, như đàn dê theo con đầu đàn. Sấm dạy: “dê đi dê lại tuồn luồn, đàn đi nó cũng một muôn phù trì” vì thế đi xâm lược nước người rất vô lý mà vẫn đi? sinh ra người thua kẻ thắng, tạo thành thù hận, khi chưa có dân quyền tự do nên khó hóa giải, phản đối thì bị truy chụp, làm mất thiện khí và đau lòng người. (19)- Chỉ dân tộc Việt Nam và Trung Hoa. (20)- Lý Học xuất từ Càn Khôn: “Càn nãi thiên chi thống, Khôn nãi thuận vi thiên- 乾乃天之統.坤乃 順 為天“: phương tây ứng Càn, phương đông ứng Khôn. Hãy hiểu ra rằng: phương đông mà thuận với phương tây sẽ làm được cái việc sinh khí ở thế gian, thái bình thịnh trị, thế giới sẽ mau mắn (như người vợ theo người chồng, âm theo dương) ngược lại sẽ tranh hành loạn lạc mà lịch sử đã hiển hiện xưa nay rất rõ- đây là bí mật thiên cơ- độn thấy rằng: nay có thể nói ra được!. Dịch nói: Càn: nguyên hanh lỵ trinh, Khôn: nguyên hanh, lỵ tẫn mã chi trinh- 乾:元亨利貞-坤:元亨.利牝馬之貞“- tức Càn là trời, gốc của sự sáng, sự trong sạch, lợi cho muôn loài, Khôn thuận theo cũng sẽ làm được cái việc của trời như thế, như con ngựa cái theo con ngựa đực mà làm cái việc sinh thành dâng tràn dịch khí đến cùng cực, lợi đến muôn dân rộng khắp; khác đi Khôn chỉ trùng trục như con trâu cái hung hăng khó bảo, có thể gây họa..! đến mê muội ngu độn.. Cho nên phương tây (và một phần cực bắc) luôn đi đầu trong khoa học kỹ thuật phát minh sáng chế, làm ra máy móc, thiết bị, ánh sáng, linh kiện điiện tử ứng dụng... vân vân... phương đông chỉ học theo (cả ăn cắp, bắt chước...) mà làm thì có thể khéo léo hơn, lịch sử cũng đã chứng minh y mực hệt (như TQ ngày nay là đại công xưởng của TG); đủ cơ sở minh giải cho cuộc tranh luận gần đây trong giới báo chí hỏi rằng tại sao Trung Quốc chi ra nhiều tiền cho khoa học kỹ thuật mà ít có phát minh đủ tầm của trao giải Nobel. Minh chứng: hơn 2000 người được trao giải Nobel từ giữa thế kỷ XX đến nay thì 97% là người gốc ở phương “tây- tây bắc”- chỉ 3-4% là người gốc ở phương đông, nhưng những người này cũng đã phải cư trú hoặc có môi chứng tại phương “tây- tây bắc”. Cho nên có thể nói “trái đất cũng có đầu”. Sấm Trạng Trình có câu “đoài phương phúc địa giáng linh” hoặc “người đoài ấy cũng thực tài, mà cho người sở toan bài lập công” là cái ý như thế! người đoài lài người p.tây, cũng thực tài đấy! sao ta lại xua họ đi mà để cho người phương đông toan lập công? người sở là người p.đông (ám chỉ...ai- giờ ta đều biết!)- lại dạy “hiểu xuôi cũng được ngược thời mới nên!” cũng là ý ấy cả, tức hiểu ngược ta mới tri nghiệm sự đúng thuộc về khí dịch thiên cơ, thuộc về trời..! Ta cũng xem: thế kỷ XXI người phương đông đua nhau sang phương tây học tập rồi từ đó trở về phương đông làm cho phương đông phát triển rực rỡ- cho nên cần biết ơn phương tây và không nên cạnh tranh theo kiểu thiếu văn hóa với phương tây. (21)- Sấm Trạng nguyên văn: “hầu đáo kê lai vị chính kỳ, quốc dân hãm nịch quốc dân di, dân dã dục dĩ chu như tống, phong nghĩ tung hoành thị mạc phi, thượng huyển hạ đảo nhân vô thủ, tài tận tâm hao thế lực suy, huyết chiến dê đàn nhân huyết chiến, kham tiếu không huyền tiệm thất ky-猴 到 雞 來 位 政 旗.國 民 陷 惄 國 民 移.民 野 欲 已 朱 如 宋.蜂 蟻 鏦 珩 視 抹 誹.下 懸 上 倒 人 旡 首.才 尽 心 耗 勢 力 衰.血 戰 羝 壇 因 血 戰.堪 笑 空 弦 漸 失 箕“- tức là năm hầu qua năm kê (79-80-81), phân biệt mằu cờ sắc áo dân đen bị bức hãm mà di tản, nhưng là dân thì nhà chu nhà tống cũng vậy thôi! cuộc sống yên thân kiếm ăn là được; con ong cái kiến giặc giã đâu có coi trọng tiếng thị phi? mọi thứ đảo lộn dưới trên, chiến tranh tiếp tục là nguyên nhân của chiến tranh huyết chiến. nực cười cho nhân thế như cây đàn đứt giây! Thiên cơ lạc phách. (22)- Ngạn ngữ Việt khi Lê Quý Ly cướp ngôi nhà Trần mới lộ là Hồ Quý Ly, bấy giờ dân ta mới có câu “nuôi ong tay áo nuôi cáo trong nhà”- không biết rằng âm khí nuôi dưỡng ngay trong lòng non sông đất nước. (23)- ý nói vẫn lảng vãng khí dịch phản trắc khi là cư dân nước Việt- ngược lại dân Việt vẫn cả tin, nhưng cũng là vận thời. (24)- Nguyên văn 2 câu trong một bai thơ của Trạng Trình “trùng hưng dĩ bốc độ giang mã, hâu họa ưng phòng nhập thất khu- 重興已卜度 江馬後禍 應防入七區“ ý rằng hưng dực có thể vào năm Ngọ (2014),, nhưng khí quái đã xông tận cung đình tới bảy phần!? (25)- Nguyên văn Sấm Trạng Trình “nước non từ thuở Hồng Bàng, bể dâu cuộc thế giang san đổi vần...”. (26)- Một đoạn mở đầu trong một bài Sấm Ký của Trạng Trình- biết nước Nam ta luôn có thánh tài. (27)- Nhị Thủy- là hai vùng tụ thủy của đất nước Việt Nam ta gồm đồng băng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, lưu vực của 2 con sông lớn làm thành hai vựa lúa của đất nước (mà trước nay các bậc túc nho thức giả vẫn hiểu nhầm là chỉ sông Nhị Hà tức Hồng Hà). Vậy là Đức Trạng Trình (1491-1585) đã biết rõ vùng Chiêm Thành, Chân Lạp vận thế sẽ thuộc Việt Nam. (28)- Đao Sơn: chính là dãy núi Trường Sơn chạy dọc tận hoành sơn như một lưỡi đao, cái xương sống của Việt Nam ta (trước nay các bậc túc nho thức giả không rõ cứ hiểu nhầm là 2 chữ Đảo Sơn, rồi cho rằng Trạng nói đến đảo Côn Lôn ở ngoài biển khơi phía Đông đất Nam Bộ). (29)- Bãi Ngọc- Chính là Hoàng Sa và Trường Sa gồm nhiều bãi đá ngầm ngoài khơi mà Chủ Quyền Việt Nam đã thực hiên từ thời Gia Long phục quốc 1802. (30)- Âu Vàng chính là toàn bộ Biển Đông cùng hải đảo mà Việt Nam giữ vững chủ quyền, hình ảnh như một cái Âu đựng nước dân ta vẫn dùng. (31)- Cách vật- đã giải thích xem mục (10), vận này hiểu ra? mới có thể “...bấy giờ quét sạch thú ly”./.
----------------------------------------------------------------------(18/4/2010-PhạmVũHội)
(Bị chú: đã tải ở dienbatn blog)


Thứ Năm, 20 tháng 5, 2010

Sấm Trạng tri nghiệm- Lý học Càn Khôn

2.
kể từ tuổi nhỏ qua đi
gặp thời loạn lạc khốn nguy bời bời
chiến tranh rần rật khắp nơi
Hiền Giang một lẻo cắt đôi sơn hà(5)
phân chia bên địch bên ta
thắt lưng buộc bụng mà ra chiến trường
mẹ gia một nắng hai sương
tuổi xuân hăng hái lên đường lập công
thân trai nhẹ tựa lông hồng(6)
bom rơi đạn nổ tứ tung ngũ hành
rõ là phải "thửa hung hoang...(7)"
rõ là binh hỏa chiến trường khốn thay
rõ là "cá phải ẩn cây..."
rõ là "còn mấy chim bay một làng?(8)"
khăng khăng sắc đỏ sắc vàng
nhà máy thôn làng khẩu súng khoác vai(9)
đúng là thiên hạ xẻ hai
đúng là "kẻ sở- người đoài(10)" choảng nhau
"muông dân chịu những âu sầu
kể dư đôi ngũ...(11)" quả hầu mới yên..!
*
thương cho hai chữ Thánh hiền
bảy nổi ba chìm mới được hồi sinh
những năm Giáp Ất Bính Đinh
Sấm Ký Trạng Trình đều phải đốt đi(12)
sự lòng dân nhớ dân ghi
năm trăm năm ấy người đi lại về
thủy sinh... cành lá xum xuê
càn khôn thái vận bốn bề cảo thơm...(13)
đẽo vuông rồi lại đẽo tròn
công cha nghĩa mẹ nhớ ơn muôn đời...!
*
Hai tay nâng quyển Sấm trời
ấm áp mọi lời Trạng đã dạy cho
huyền thông là truyện thiên cơ
nói ra không thể tóc tơ tỏ tường
thực hư để lại nhân gian
đúng sai để lại nghiệm bàn hậu sinh..!(14)
nay xem thời nghiệm lộ trình
"phục nguyên chu ngũ...(15)" tài tình xiết bao
nhớ câu Trạng viết thuở nào
"một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa"
những điều báo chí đăng qua
ứng vào thời thế thật là thần minh
có câu "long vĩ chiến tranh...
can qua thân dậu thái bình niên lai(16)"
ấy là đại chiến thứ hai
thời gian sự thế chẳng sai tí nào...
đồ thư một quyển Trạng trao
năm trăm năm ấy trải bao nhiêu đời
có câu "Tiên Lãng chia đôi...
sông Hàn nối lại thì tôi lại về...(17)"
*
Lần theo mạch đất đồng quê
vẫn còn đền Trạng bốn bề cỏ hoang
vẫn còn dải đất Trung Am(18)
bến đò Tăng Thịnh sông Hàn nước xuôi
bao năm cát lở đất bồi
bờ đê Nam Tử chân người gió theo(19)
quê cha quê mẹ còn nghèo
chỉ mong có được cầu kiều bắc sang
cánh buồm nhẹ lướt hàn giang
bể Đông mây trắng từng làn trắng mây
chuông chùa Thạch Khánh khô gầy
Thiên Hương nẻo khuất thuyền đầy khách thăm
Tràng Xuân Kiều(20)... lặng bâng khuâng
Thái Bình choi chói một vùng Trấn Dương(21)
ngao du Đông Hải- Đồ Sơn
lại về Kính Chủ động tiên(22) sớm chiều
sự già vui bạn theo theo...
văn chương tri ngộ điều điều tự tâm
mặc ai xua đuổi hươu Tần
trăng lên Lầu Hán ngồi thăm mệnh trời
dở hay bởi tự lòng người
bút hoa soi chép những lời thần tiên
chữ đề Sấm Ký bí truyền
chữ tâm thực sáng chữ thiền thực cao
chữ tài chữ tuệ siêu sao
"Trung thiên như nhật" thắm vào ngàn năm...
*
mát trong theo mạch nước ngầm
mát vào hoa cỏ tưới nhuần khắp nơi...
rằng đầu thế kỷ hai mươi
"phân phân tòng bắc khởi..." ngòn chiến tranh
ấy là Đức, Pháp, Ý, Anh
Áo, Hung, Nga, Nhật, Mỹ tranh giành đất đai
ấy là tám nước cường tài
làm "tám cúng quỷ" tính bài hại nhân...
nổi cơn binh lửa ầm ầm
"hùm già lạc dấu" khôn lầm lối ra
Véc-sail quyền lợi bất hòa
thắng thua thù hận cho là cách tân
đoài phương ong khởi lần lần...
"muông sinh ba góc" cầm quân dấy loàn...
ấy là Đức, Ý, Nhật-Hoàng
thành Trục Phát-xít tính toan phục thù
đua tranh quân lực quân nhu
gây nên đại chiến mịt mù bốn phương
địa cầu ra bãi chiến trường
thuỷ chiến bộ chiến trăm đường ghớm ghê
mùi thân Đức, Ý thua to
Mỹ, Anh, Nga, Pháp kết lò đồng minh
bấy giờ "nhiễu nhiễu... đông chinh"
khắp nơi chĩa súng vào anh Nhật Hoàng
Đồng minh đòi Nhật đầu hàng
ngẩn ngơ thì nỗi kinh hoàng sảy ra
Hoa Kỳ dùng đến bom- A
một Hy-rô-sị một Nà zaga-ki
Châu thành tan tác như ri
đúng năm Ất Dậu thôi thì thảm thương
"gà dâu gáy sớm bên tường
chẳng yêu thì cũng bất tường rằng không
quốc trung kinh dụng cao không
giữa năm mà lại hiểm hung mùa màng"
bấy giờ Nhật phải đầu hàng
đồng minh thắng trận khải hoàn khắp nơi..!
**
-------------------------------------
Ghi chú:(5)Hiền giang: sông Hiền lương ở Quảng Bình, thuộc vĩ tuyến 17, là dòng sông chia cắt đất nước Việt từ 1955 tới 1975, trong 30 năm phân tuyến Người Việt miền Bắc theo Cộng sản đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc; miên Nam theo Tư bản Tự do đứng đầu là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. phân ra địch ta và chiến tranh suốt 30 năm ấy; ở Miền Bắc thanh niên lớn lên 16 tuổi vào Đoàn TNCS và thường ra trận. (6) Khi ra trận Thanh niên thường khuyến nhau "một xanh cỏ , hai đỏ ngực" lấy câu thơ của Đoàn Thị Điểm mà tự thị "Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao" nghĩa là tự nhủ làm trai ra trận coi cái chết tựa như lông hồng! (7)Nguyên văn lời Sấm "...kẻ thì phải thửa hung hoang, kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan, kẻ thì mắc thửa hung tàn, kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình..." -chữ ”thửa”: dùng trong Sấm Trạng theo văn nghĩa cổ ý chung chung là làm cho mình; thí dụ: thửa cái áo mà mặc; hoặc làm cái gì cho vừa vặn: thửa đôi giày, thửa cái nhẫn; hoặc kiến giải điều gì cho đạt ý: thửa nên... thửa chăng?; hoặc so sánh: công lênh phụ mẫu thửa ấy ai bằng? ở đây chữ thửa "cổ nghĩa" là làm cho mình một cái vừa vặn! thực lòng muốn có cái đó, như thửa đôi giày, cái áo đúng ý; tuy vậy câu trên "phải thửa hung hoang" tức là bị bắt ép mà tự thửa, câu dưới "mắc thửa hung tàn" thì là bận bịu với việc thửa, mà lại là thửa "bom đạn bắn giết" cho chính mình; vậy hiểu ra lời Sấm ngầm cho ta biết cuộc chiến tranh mà Dân Việt ta tiến hành là ta tự làm, tự muốn có, khổ ải về chiến tranh là ta tự muốn có, chứ không phải do ngoại bang! trước kia ta cứ tưởng do ngoại bang, giờ suy ngẫm câu Sấm đến nay ta thấy đúng vậy? tự chia ra địch ta rồi huyết chiến hứng chịu?; nhiều bực trí giả tiền nhân trước kia ngỡ là các cụ chép nhầm nên đều chữa lại thành chữ "thuở" thực sai quá! nay cuộc tàn mới thấy chữ "thửa" đầy ý nghĩa..! (8) Nguyên văn "cây bay lá lửa dội ngàn, một làng còn mấy chim đàn bay ra" (9)Những năm 1964-1975 trai làng ra trận, chiến trường BCD Nam Việt, Lào, Khơme, ở nhà chỉ còn phụ nữ, ông già lập thành dân quân tự vệ, nhà nước phát súng đạn, trong nhà máy cũng vậy, đi làm mang theo, khoác theo... (10)Nguyên văn Sấm "mà thiên hạ sao xẻ làm hai, người đoài ấy cũng thực tài, mà cho người sở toan bài lập công..."; người Đoài: chỉ người ph. Tây, kẻ Sở: chỉ người ph. Đông- cách nói theo tích Đông Chu liệt quốc, vì nước Sở nằm về phía đông Bành Thành: kinh đô nước Tần, nên Tần là đoài, Sở là đông; thực chất thiên hạ xẻ hai tức 2 phe CS và TB, sự xẻ đôi (1945- 1989) từ Chính trị kinh tế tới văn hóa ý thức hệ...! đều ở hai thái cực đối lập! Ý Sấm còn ngầm cho ta biết người Tây cũng giỏi, học và theo họ để họ lập công với dân được lắm chứ? sao lại để người ph. Đông ban ơn lập công? chỉ làm cho nước ta và muông sinh ph.đông khổ mà thôi? cần hiểu là ph. đông gồm cả Liên Xô, Trung Quốc, và Việt Nam mới đúng theo kinh dịch và đường kinh tuyến o-o greewich..! (11)Nguyên văn "kể dư đôi ngũ mới hầu khoan cho" đôi ngũ là 5x5= 25 năm, dư là hơn, 25 năm có dư, thực tế đúng tính ra chiến tranh ở Đông dương- Việt Nam bắt đầu và kết thúc tạm, là từ 1964- sự kiên Vịnh Bắc Bộ tới 1991- rút khỏi Khơmer = 27 năm!? (12)Giáp Ất Bính Đinh: là các năm 1954, 1955, 1956, 1957, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Định Dậu, chính quyền miền Bắc bắt tập trung sách dưới thời Phong kiến- Thực dân gồm chữ Tây, chữ Nho đem đốt hết, ai không nộp cất dấu thi bị bắt giam hoặc đấu tố, Sấm Ký cũng bị cho là dị đoan cũng bị đem đốt hết. (13)Sấm lưu truyền rằng thời hạn Đức trạng tiên tri là 500 năm, người viết bài này theo Sấm độn tính ra bây giờ là 2010 khoảng hơn 40 năm nữa; (14) Nguyên văn Sấm " cơ tạo hóa phép màu khôn tỏ, cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao, thấy Sấm từ nay chép vào, một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa, thần- kinh thái- ất suy ra , để dành con cháu gần xa nghiệm bàn"; (15) Nguyên văn "chu ngũ phục nguyên tiền" tức là tròn 500 năm thì nước Nam ta lại ổn định trở lại sự hanh quang;(16) Ng. văn "Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh, can qua xứ xứ khổ đao binh, mã đề dương cước anh hùng tận, thân dậu niên lai kiến thái bình" Nghiệm ra 6/8-1940 Canh Thìn (con rồng), Đức tấn công Liên Xô, tới đầu 1941 Tân Tị (con rắn) mở rộng chiến tranh toàn bộ các mặt trận Châu Âu; Phía Đông Nhật nổ súng vùng Thái Bình dương, từ đầu 1942 Nhâm Ngọ (con ngựa) tới cuối 1943 Quý Mùi (con dê) Đức thất thủ liên tiếp bỏ chạy khỏi Moscow, nhiều tướng tá binh lính Đức tử trận bị bắt làm tù binh, đến 15- 8-1945 Béc lin bị Liên Xô và Đồng minh chiếm, Đức đầu hàng vô điều kiện, kế theo Nhật và Ý đầu hàng Đồng minh, lời tiên tri đúng hoàn toàn!; (17) Ng. văn "bao giờ Tiên Lãng chia đôi, sông Hàn nối lại thì tôi lại về!" sự thực con sông đào Tiên lãng chia đôi huyện đã có từ thời Ng. Công Trứ khẩn điền, đến 1985, Hải Phòng tổ chức Hội nghị kỷ niệm 400 năm ngày mất của Trạng và làm cầu phao Sông Hàn, thì mọi người nhớ đến câu Sấm này... và bình luận Sấm Trạng tự do hơn trước, không bị cấm đoán gắt gao nữa!(18)Trung Am là quê Đức Trạng nay thuộc xã Lý Học- Vĩnh Bảo Hải Phòng trước 1945 thuộc tổng Thượng Am, phủ Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương; Tăng Thịnh là xóm thuộc xã Liên Am. (19) Đê Nam Tử, tức Nam Tử Hạ nay thuộc xã Kiến Thiết huyện Tiên Lãng, Hải Phòng cũng có tên An Tử Hạ, là quê ngoại của Đức Trạng Trình- có con đê theo dòng sông Hàn còn có tên là sông Tuyết, do vật người đời tôn Trạng Trình là Tyết Giang Phu Tử.(20) Tràng Xuân Kiều tức cầu Trường Xuân tương truyền do Trạng vận động dân và bô lão xây dựng lúc sinh thời vào đền Thạch Khánh, nay tìm được phiến đá ghi chữ Trường... làm di tích.(21) Chùa Thái Bình- Thái Bình Tự nằm về phía Đông Vĩnh Bảo nay thuộc xã Trấn Dương.
--------------------------------------------------(còn nữa)

Sấm Trạng Tri nghiệm- Lý học Càn Khôn

1-Tri Nghiệm... diễn nghĩa..!
***

Lâu nay gắng lấy sự nhàn
mở quyển sách vàng nhiệm nhặt ngồi xem
có câu Sấm ký bí truyền
tuổi thơ nghe lỏm(1), đôi phen hỏi dò
lão phu các cụ bơ phờ
luận giải hàng giờ, cũng chỉ chừng ra
"mười phần mất bảy còn ba
mất hai còn một..."(2) thực là khó thay!
*
trẻ con chạy dọc luống cày
chấp chân sai vặt cả ngày mà vui
cái thời điếu đóm ông tôi
cái thời sâu nặng tình người nghĩa cha
đồng xanh ruộng lúa bao la
lũy tre vi vút tiếng gà gáy trưa
mái tranh sông nước hững hờ
lưng trâu ngồi đọc i..tờ ê ..a..!(3)
*
Sấm Trạng Trình đã viết ra
mỗi câu mỗi chữ đều là thần tiên
gắng công học chữ thánh hiền(4)
họa may hiểu được lời truyền Trạng cho
họa may hiểu được biến cơ
tài trai thông luận cơ hồ dọc ngang
Sấm gieo muôn ngọc nghìn vàng
thỉnh xin từng chữ rõ ràng nhớ ghi...
***
-------------------------------
Ghi chú:(1)"Nghe lỏm" là nghe mà minh không phải là người chính thức trong cuộc nói chuyện; người viết bài này nhớ lại khi còn bé đã nghe các cụ bình về Sấm Trạng Trình, bản thân mình chầu rìa, đôi khi các cụ sai vặt. (2)Nguyên văn lời Sấm: "bao giờ đá nổi lông chìm, đồng khô hồ cạn con tìm thấy cha, mười phầm mất bảy còn ba, mất hai còn một mới ra thái bình" các cụ ngỡ là dân chết hai đận, đận 1 binh lửa can qua chết bảy còn ba, lần 2 tiếp tục chiến tranh chết hai còn một... thế thì dân Nam ta chết hết còn gì? các cụ lắc đầu! không biết đâu mà lần!. Có cụ vỗ đùi: "Tưởng Giới Thạch bị đánh chạy ra đảo Đài Loan thì nổi rồi! Thạch chả là đá thì là cái gì? ô! Mao là Lông, lạ thật! lông chìm, đồng khô hồ cạn cứ là lộn tùng phèo! ngược đời tất tật... không biết bao giờ mới kết thúc?(3) Đồng xanh, cánh cò, chăn trâu cắt cỏ, lũy tre làng, tiếng gà gáy trưa, mái tranh, cây đa bến nước, đồng chiêm quê tôi...- là sắc thái nhịp sống của văn hóa làng quê Viêt Nam, rất ấn tượng với một đời người dân Việt. (4)Nước Việt ta có hai loại chữ, xét ra đều là quốc ngữ cả, Chữ Nôm còn gọi là chữ Nho (chữ tượng hình, giống chữ Tàu mà Việt chế đi một ít) và chữ Quốc Ngữ (hệ chữ la tinh do các giáo sĩ Bồ- Tây Ban nha sáng tạo, mà công lao nhất là Ông Alexandrox- giáo sĩ người Bồ đã căn chỉnh rất sát chính tả ngày nay ta dùng); học chữ Thánh hiền là học chữ Nôm, chữ Nho để hiểu về lịch sử văn hóa truyền thống... Xưa các cụ thường khuyên con cháu gắng học để biết thời vận, mới hiểu được Sấm truyền. Chữ Quốc Ngữ hệ La tinh, mà ta gọi thẳng là Quốc ngữ được Phong trào Duy Tân cổ vũ, học chữ này mau biết đọc mau biết viết, tiện lợi khi tiếp thu Tây học, rất tiến bộ tân văn. Trạng Trình đã Tiên tri về chữ Quốc ngữ khi mở đầu bài Sấm Ký "vận lành mừng gặp tiết lành, thấy trong quốc ngữ tập tành nên câu", hai chữ "tập tành" rất thâm hậu, nghĩa là Đức Trạng báo rằng chữ quốc ngữ hệ la tinh sẽ phát triển thành phong hóa của ngữ ngôn Việt Nam... (cần hiểu ngạn ngữ Việt: "có phong hóa có khác, có tập tành có khác!?" Thế là ta vỡ lẽ, chữ Quốc ngữ hệ la tinh đã được "tập tành" từ cuối thế kỷ mười chín- XIX, đến đầu thế kỷ hai mươi XX đã trở thành Ngữ Văn chính thức trên trường Quốc tế của nước Việt ta... đúng lời Sấm của Trạng..!).
-------------------------------------------------------(còn nữa...)