Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình- Lý Học- Càn Khôn- Chiêm Thời-“知驗讖記狀程-理學乾坤-占時“... ***Nhân sự kiện Biển Đông.

Minh họa Sấm Ký Trạng Trình của KTS Phạm Vũ Hội:
-(nguyên văn) Sấm viết:
友情友始實之名
hữu tình hữu thuỷ thực chi danh
馬牛之歲視柃柃
Mã ngưu chi tuế thị rành rành
干戈豬鼠江東出
Can qua trư thử giang đông xuất
到尋史地晤明君
Đáo tầm sử địa ngộ minh quân:
***


*
-(nguyên văn) Sấm viết:
“Nước Nam thường có thánh tài(26)...
Sơn hà vững đặt mấy ai tỏ tường
Kìa Nhị Thủy(27) nọ Đao Sơn(28)...

Bãi Ngọc(29) đất nổi Âu Vàng(30) trời cho...
***

***
Biển Đông? Việt Nam? Asean? Hay Đông Nam Á?
Hay điểm nóng và tiến bộ toàn cầu?
---------------------------------------------------(PVH)
(trang tin TTNgTD) Ngày 21/ 5/ 2014 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: đã trả lời phỏng vấn Hãng tin AP (Mỹ) và Reuters (Anh) về tình hình Biển Đông cũng như các biện pháp giải quyết của Việt Nam:
"Những hành động của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam trong nhiều ngày qua là cực kỳ nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó..."
---------------------------------------------------
Ý Kiến của tôi- KTS Phạm Vũ Hội:
-Thủ Tướng đã nói lên tiếng nói truyền thống của cả dân tộc VN, vốn âm ỉ trong lòng mọi người đã rất lâu? Một đất nước, nhiều năm qua, mà cứ bị "kẻ lạ, tàu lạ" bắt nạt? đến truyền thông "nhà nước" cũng "lạ" cứ im ỉm mãi?
-Tôi (một Đảng viên từ 1969- có thói quen theo dõi thời sự chính trị xh) rất bất bình với nhà nước mình?; nay được nghe chính Thủ tướng nêu lên quan điểm thẳng thắn kiên quyết, thật sự rất tán thành, ủng hộ... Tôi xin có tâm sự và tham vấn như sau:
-Cứ ngỡ rằng sau "The World War-II- 1945" là "Thời hiện đại- Nhân quyền" là niềm tự hào nhân loại sẽ được phát huy. Nào ngờ Cộng sản Tàu lại "từ bỏ(?)" chủ nghĩa "Nhân đạo Cộng sản?(tạm gọi ý này.!)" vốn "đã từng?" được duy danh định nghĩa cho là bình đẳng, hữu nghị, tốt đẹp... lại luôn là đồng chí như môi với răng?, thì nay Họ- Tàu, không cần che đậy, mà sẵn sàng bộc lộ dã tâm quay ngược lịch sử, tiến hành miệng nói CNXH nhưng thực hiện Chủ nghĩa Bá quyền, với "âm mưu Biển Đông" vốn đã lâu dài... có từ 30- 50 năm trước (1950..)... Nghĩa là... té ra là... từ những năm “50” lúc CS Tàu "giúp" Việt Nam đánh Pháp, khoe “tiền tuyến lớn, hậu phương lớn”... đã nằm trong bài bản "thôn tính VN: bằng bộ máy C.S đồng chí VN...". Liệu những cái đầu sáng giá ở VN "tuy biết mà vẫn cam tâm!? (Hoặc là CSVN trong lúc tranh tối tranh sáng “tương kế tựu kế?”) nếu không muốn nói khác đi..! Hoặc nữa là C.S VN đã quá thấm nhuần cái mơ ước thiên đường C.S toàn thế giới “tứ hải giai huynh đệ”? hu hu!- thì việc dù có bị nhận một bài học (1979), chứ 10 bài học cũng chẳng lấy gì là quan trọng, hu hu?- thì dẫu "răng" cắn "môi" chảy máu..? cứ nuốt cái ực là xong rồi, chết là hết! con cháu có giỏi thì đi mà đòi lại..hu hu!" Và bây giờ khiến cho lời giải đáp gặp nhiều đau khổ tổn hao xương máu, chia rẽ lương tâm dân tộc..! và rất phức tạp... (thuở còn hăng hái nơi tuyến lửa, dù chỉ là nhân viên tôi cũng đã nghĩ rất cần cảnh giới điều này... thì bây giờ đúng vậy)
-Tất nhiên bình luận cho ra lẽ vậy thôi chứ lịch sử vốn sai lầm, cơ trời đã thế, và bây giờ đã giao cho các thế hệ thời nay, thì thế hệ thời đại nay phải gánh vác sứ mạng tranh đấu để bảo vệ non sông đất nước, chứ đừng nghĩ như PTT Vũ Đức Đam: “chúng ta chưa làm được thì con cháu sẽ tiếp tục..!". nghe thấy mông lung, chẳng thấy khí phách xã tắc ở đâu cả!?, cũng không thể chấp nhận cái Ông Phùng cứ viển vông hữu nghị mãi...
-Bài học nước “Việt Nam hình như chữ S" từ Mục Nam Quan tới Mũi Cà Mau, bốn ngàn năm... một mệnh đề quen thuộc, liệu có bao giờ được nhắc lại? Ai sẽ làm rõ điều đó trước quốc nội, quốc tế đây? Cần phải lật từng trang sử quá khứ và cận đại mà soi xét, mà hiệu chỉnh... họa may mới hiểu rõ hơn chăng?.
-Nhưng ít ai biết rằng: Cộng sản TQ đang dùng sách lược "Phạm Thư" của nhà Tần... cách mà: hơn hai ngàn năm trước: đó là "Viễn thân cận công- 遠親近攻"; với "Tiên lấn nhược hậu lấn cường- 先趁弱後趁彊"...
-"viễn thân cận công" là gì? Nghĩa là đối với các nước ở xa thì khéo léo ngọai giao, cầu thân, tận châu Phi châu Mỹ chẳng hạn, tranh thủ đầu tư viện trợ lo lót họ để họ làm ngơ, chơi bài thực dân mới... Ngược lại đối với “các nước nhỏ liền kề biên giới” thì chia rẽ, tấn công, thôn tính, phủ dụ..! giở các mẹo vặt “đàm phán song phương- thân thương hữu nghị”; "tiên lấn nhược hậu lấn cường" là gì? Nghĩa là chiếm dần, lấn dần, đất đai, biển đảo các nước... khi ý thức dân tộc của các nước ấy, các vị đứng đầu, chúng vị bạc nhược... kiểu “tầm gửi lấn cành” buộc các nước này cam phận sân sau “azua- bá ứng”,  bằng ảnh hưởng kinh tế văn hóa vô cảm... trước đối với các nước yếu nhược, sau đối với các nước lớn hơn, cường mạnh hơn, từ gần tới xa...
-Cụ thể, trước mắt các nước sẽ bị xâm lấn có thể là Việt Nam, (Đài Loan?) ...bằng đủ các cách chiến thuật như họ đã thử trình diễn: cách va chạm, xâm lược trên không, trên biển từ 1988... 2001... tới nay; mà còn để thăm dò nước lớn Mỹ, Nhật, Nga... liệu sự tiếp theo có thể là Philipin Mã Lai, Miến? Thái? hay thêm nữa Hàn? Inđônexia? Dần dần thì Ấn? Úc?... rồi chơi trò một cái "rụp" hu hu!.. như phép "đà đao" (kiểu Crưm của Nga); vẫn mời gọi đầu tư mà! Cái mẹo hợp tác- công thương tư bản tư doanh ngày xưa chỉ dùng đối nội quốc gia, thì nay áp dụng cho cả quốc tế đối ngoại mà..!.
-Một trong những chiến thuật gian hiểm "viễn thân" là phải kể việc lập các "trùng- kén" bằng hình thức tập đoàn đầu tư lặng lẽ, với ngôn từ hữu nghị vào châu Phi, châu Mỹ... kể cả việc "chia ngôi bá chủ" với Mỹ, công thức hấp dẫn: “Thế giới + G2; Thái Bình Dương đủ lớn- cho cả Mỹ và Trung”, nhằm đánh bại lý tưởng nhân quyền tự do và độc lập dân tộc gần hai trăm năm mươi qua của các đời Tổng thống Mỹ và người dân Mỹ + nhiều quốc gia dân chủ khác, phủ nhận tính phổ quát nhân quyền, tung cái vòng kim cô không can thiệp nội bộ của nhau... kéo Thế giới trở lại "những thảm họa trước thời cận đại- 1789"- thổi bùng chủ nghĩa Đế Quốc, xâm lăng, khống chế lãnh thổ và thực thi chủ nghĩa thực dân mới áp bức dân tộc, áp đặt “hoà bình” với vai trò nước lớn, cô lập dư luận theo vùng khu vực, xâm nhập thị trường bằng sức ép tiền tệ tài chinh; có thể các nước lớn (G7) trên Thế giới mải làm ăn, một thời thịnh vượng, độ lượng cứu trợ xã hội trong tư duy đắc ý, nay đang khủng hoảnh kinh tế, không cảnh giác với “cái hốc đen” lục địa này?
(đây là khí dịch, khi nghiên cứu âm dịch, theo Khoa học Vũ Trụ, các nhà khoa học chỉ biết đến “hốc đen Vũ Trụ”, mà không có trực giác kiến giải “hốc đen thế gian”, vốn cũng rất hạo nhiên khoa học- tôi nghiên cứu Dịch học muốn nhấn mạnh điều này!)...
-Mục tiêu Đại Hán, là hình thành một Đế quốc Toàn cầu Hoa Lục- chỉ bằng cách "tằm gửi lấn cành", ta quen gọi là "tằm ăn gửi..?". Điều này đã thể hiện rõ ý đồ kích hoạt tư tưởng bá đạo của giới Cầm đầu CS Trung Quốc trong diễn văn nhậm chức của Tập Cận Bình rằng: "Trách nhiệm của chúng ta là đoàn kết toàn đảng toàn dân nhận lấy "cây gậy" tiếp sức được lịch sử truyền lại, tiếp tục nỗ lực phấn đấu vì sự chấn hưng dân tộc Trung Hoa"(Vũ Hà- theo Xinhua). Nói "cây gậy tiếp sức được lịch sử truyền lại”??? bàn rằng: ý chữ bẩn! lỗ mãng; lẽ ra là truyền thống nhân văn, tiếp sức từ tính nhân văn của lịch sử, Vì "cây gậy" chỉ dùng để đánh người, còn để đi thì chỉ để chống trượt? tư duy dựa dẫm, mục đích “đánh người và chống trượt” cả hai thì đen tối. Ám khí của bài diễn từ này là lù lù một cục, lên mặt, thách thức nhiều hơn sự tôn trọng thế giới, ngầm vực dậy tư tưởng bá đạo!. Xem đó ta có thể hiểu hành vi của TQ đang làm... với VN, và các nước xung quanh...
-Để chống lại điều này, điều mà các nước nhỏ yếu khu vực Đông Nam Á gồm 10 nước Asean, phải ý thức sâu sắc trước khi đưa ra đối sách... Liệu các chú cừu non có muốn tránh họa, khi chưa trở thành miếng thịt trên bàn tiệc của kẻ khổng lồ- thực chất trùng trục bá quyền- thâm căn cố đế, thích mở rộng lãnh thổ, thích dùng "mẹo thời gian" để vu khống, khống chế lịch sử, lấn mãi cũng phải chịu, nói mãi cũng phải nghe, hu hu..! Các nước xa hơn cũng phải ý thức về sự tồn vong, bản sắc văn hóa nhân quyền của dân tộc mình, may ra mới có sự liên kết có hiệu quả, ngăn cản chống lại âm mưu như vậy, gìn giữ văn minh chung- góp phần ổn định các bước đi chập chững nhân quyền cho nhân loại.
-Tất nhiên đối sách của các nước Đông Á là cần bao vây Trung Quốc, không để bị mắc lừa, bằng những "từ ngữ Tàu" hoặc "phương châm Tàu" rất... ngấm ngầm, hấp dẫn "kiểu như trỗi dậy hòa bình; láng giềng hữu nghị"..? Muốn vậy phải phối hợp và cùng nhau thỏa hiệp thực hiện phương châm của riêng mình: "Viễn cầu cận kết- viễn cung cận bao- 遠逑近結 遠給近刨". Nghĩa là các nước ở xa thì phải cầu họ giúp mình, như cầu Mỹ, Pháp, Nga, Anh, Ca na đa, Ai cập... Liên Hợp Quốc... gần thì liên kết đa phương bao vây; mỗi nước một tay, một chân, cắt xẻo đập tan từng âm mưu, từng thủ đoạn của Trung Quốc, buộc cực quyền TQ phải tôn trọng độc lập của mình, tôn trọng các Luật pháp và công ước Quốc tế, để lục địa Trung Quốc- thoát khỏi sự chi phối âm dịch phải là "một nhà nước Dân quyền- Pháp quyền- Đa nguyên"- thì Thế giới và "chính dân tộc Trung Hoa"... mới hết tai họa! mới hết cái trò: "một bé gái xinh xắn chiếm đoạt giọng hát hay của một bé gái xấu xí... hu hu!" kiểu Olimpich mà dân tộc ấy cứ dửng dưng (2008)... hoặc cái trò "thò được một cái chân con cáo vào Hoàng Sa Trường Sa của VN, rồi bắt các ngư dân VN- ông chủ chính tông, phải nộp tiền mãi lộ như dăm bảy năm nay! Mà thế giới cứ thây kệ, đứng cười, hu hu..!? Các lãnh đạo VN sao không thấy khóc, lại cứ “16 chữ vàng” còn cười tươi hơn thế, viển vông lắm thay?... hu hu!
-Có lẽ phải chờ đợi giới trí thức chân chính "vị nhân bản ở TQ" sẽ góp sức thêm cho tiến bộ của loài người...
-Quan sát lịch sử: Hơn hai ngàn năm qua Trung Quốc chỉ là từ một nước Tần nhỏ bé ở đất Quan Trung, phía Tây nước Sở (địa phận Từ Châu nay) khoảng ngót triệu km2, sau ngàn năm, mà nay đã có gần 10 triệu km2 lãnh thổ? "tằm gửi lấn cành" đã có nguồn gốc, vẫn không hề biến thể.!
-Vậy thử xem là họ có bao nhiêu lần vạch "cái lưỡi bò" về các hướng đông, tây, nam, bắc? cùng cách ấy, đi xâm lược, cướp bóc, lấy đi, khỏa lấp đi biết bao nền văn hóa "man di- tây di..." điều mà TQ đã làm ở cái thời phong kiến! Còn bây giờ một ngàn năm tới với bộ máy TQ-CS cực quyền, từ "lặng im chờ thời" tới "trỗi dậy hòa bình"- bằng hành động kiểu "dạy cho VN một bài học- 79"; kiểu "Thiên An Môn- 89" kiểu "Laska, Duy Ngô Nhĩ 2008"... kiểu tuyên bố "chủ quyền và lợi ích cốt lõi với cái bản đồ lưỡi bò lần này liếm gần hết Biển Đông..?" Cứ đà này 30 năm tiếp theo một cái lưỡi bò sẽ liếm sát Úc, lại 30 năm một lưỡi bò liếm sát Nam Cực, hoặc liếm hết vùng Sibêri ngược lên Cực Bắc... Nhiều ngàn năm tiếp theo thì sao nữa...
-Tốt hơn hết là hình thành "ASEAN- Liên hiệp các quốc gia Đông Nam Á" + NHẬT càng sớm càng tốt! theo đề xuất của Nhật từ năm 1940, (vốn khi ấy chưa hợp thời, nhận thức chưa hiện thực) để tăng cường sức mạnh và làm đối trọng An ninh Quốc tế... làm thành một không gian vừa giữ vững độc lập các quốc gia liên kết, đảm bảo vai trò giao lưu của Biển Đông, vừa ổn định hòa bình và tiến bộ khu vực và trên Thế giới...
-Chẳng cứ nước Mỹ mà cả thế giới đều cùng có lợi ích hàng hải tự do ở đây theo quy chuẩn Quốc Tế..! thật đúng đắn khi một hội nghị đa phương về Biển Đông được mở ra do các nước Asean có chung nhận thức! Tôi tin Sấm Trạng Trình dạy không sai "Bách thế đông triều quy nhất thống-百世東潮規一統" cũng là thống nhất sự hành sử rõ ràng..!.
-Xin đừng "ấp úng như ngậm hột thị"- Thật khó mà tham vấn cho tất cả lãnh đạo VN về vấn đề này vì quan hệ Trung Quốc và Việt Nam, hiện nay cứ như lẫn~ như lộn, dân tình khó phân biệt... bởi nay chưa đủ chứng cớ nói: bộ máy VN có phải chính là TQ? Hay dáng dấp cứ lom khom? Sĩ khí như mắc tóc? như gà trong lồng nhìn thấy cáo lượn quanh? Thủ tướng thì đã nói rõ, Bộ Trưởng QP thì vẫn viển vông, như con chi chi? Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.? Do đó tình cảm chân chính dân tộc yêu nước: "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng" chưa có điều kiện dâng trào...
-Thậm chí tình cảm ấy còn bị nhà cầm quyền hạch tội phản động, thành thử nhiều người dân nhìn vào những cái ảnh Mục Nam Quan, Thác Bản Giốc, ôi lắng hồn sông núi! chỉ thảng thốt nghiến răng, mặt nhăn méo mó..?
-Nhưng lạy trời, Ông Thủ tướng Việt Nam nay đã “thẳng thắn và cực lực lên án sự gây hấn Trung Quốc”! đại hạn gặp mưa rào, chúng tôi như trút được hơi...
-Cuối cùng Biển Đông đã trở thành vấn đề của thế giới đang được Quốc tế quan tâm..! Sấm Trạng dạy:  "đáo tầm sử  địa ngộ  minh quân-到尋史地晤明君"- lật lại, tìm hiểu lịch sử, thư tịch, địa lý, mới nhận thức được những điều sáng suốt, tìm ra minh chủ!... hu hu!./…(KTS Phạm Vũ Hội).
-Xin có thơ bàn rằng:
Hạo nhiên khí tập lạ kỳ
Hang sâu lối cận biết đi đường nào
đỏ đen trong “lọ” đảo chao
Làm cho cái đón rào khó nghe
tượng hình nêm khắc nhoẹt nhoè
còn khoe sức “mạnh” mà đè thế gian
ai đem chữ ra bàn
để cho chữ đạo diễn đàn nổ tung
*
danh chi” điểm mặt điên khùng
tuế chi” quái quỷ lộn sòng trắng đen
Đằng Giang giáp trận đà quen
Biển Đông long mã lại phen tung bờm
thụ căn” ký mạch khai nguồn
định kỳ thiên hạ tứ phương lập thành...
Sấm rằng:
bước sang năm tý thì bình
Nhưng còn khói lửa đao binh một kỳ!
Bấy giờ quét sạch thú ly
Ai ơi nhớ lấy Sấm ghi kẻo lầm..!

---------------------------------------------------------------(PVH)
*
Kèm theo tôi Tải lại một bài “Phú” khái quát ngàn năm:
Việt Phù Kinh
(Còn gọi là Phú luận về Kinh Dịch).
--------------------------KTS Phạm Vũ Hội
***
Người Việt ai cũng nghe nói tới Kinh Dịch? một triết học cổ Phương Đông. Nguyễn Thiếu Dũng cho rằng vị sứ giả hiển hiện trên trống đồng thuần Việt (xưanay-Tết Mậu Tý); theo Ngô Tất Tố biên khảo dịch từ sách Tàu- thì Kinh Dịch có từ Phục Hy (thủy tổ giống người da vàng phương Nam) cách nay hàng vạn năm..(?) sau đến Tây Chu (bên Tàu)- khoảng 1100 năm TrCN, Vua Văn Vương mới đặt tên Quẻ- chua ý Quẻ: gọi là Thoán, đến Chu Công (con trai Văn Vương) lại viết thêm ý hào từ... Tiếp đến KhổngTử (551-trCN, nước Lỗ) lại soạn ra 6 thứ: tượng, văn, hệ, thuyết, tự, tạp (+quái)... Người Trung Quốc đã phát triển Kinh Dịch và dụng để Chiêm sự thế theo cách “bói dịch” (tức suy đoán) còn cách dụng như thế nào bớt “tùy biện” đi, thì không có sách nào chỉ một cách tường tận hoặc cố định. Cho nên chỉ cần hai kí ngôn vạch-chấm(1*) (dương- âm) mà có thể viết và luận bình ra thiên kinh vạn quyển, rất thú lạ! Bàn về nguồn gốc thì thiên hạ cứ nói thuộc Trung Quốc, nhưng “xét về biến cố lịch sử và hình tích Văn hóa Đông Sơn” thì ta thấy có lẽ xuất xứ gốc Kinh Dịch là của Việt Nam từ thời Hồng Bàng mà Kinh Dịch là bảo khí của Kinh Dương Vương- Càn chi- thủy tô Việt- Ngài húy là Lộc Tục, anh của Lộc Linh, vốn có tài biến hóa, không tham đất rộng, nhường cho Lộc Linh làm vua phương Bắc, còn mình chỉ làm Vua phương Nam từ Động Đình Hồ dọc Trường Giang trở xuống...
-------------------------------------------------------(PVH). 
**
“Gẫm” trong Sấm vọng lưu truyền
lần theo con tạo gắng tìm tuệ kinh
cửu thiên(1) sáng rạng cung đình
nhật hồng (1) sao lại minh minh mù mù
Cơ trời lâm trận mê đồ (2),
khốn thay non Việt dị hồ ngửa nghiêng?
**
mấy ai “xét” việc thiên niên
mà không sử sách khui tìm thiện căn
mấy ai hóa giải kiến văn
mà không kiến giải lê dân bụi lầm
dạy rằng “ôn cố tri tân (3)
nhìn xa thửa lối... nhìn gần thửa đi...
ví như tiếng vọng ầm ì...
chân trời mây phủ liệu thì bão giông..?
ví như mưa gió bịt bùng
nắng xiên... ắt có cầu vồng thất tinh..?
phút giây vẫn bảo là nhanh
triệu năm một khắc vô tình bỏ qua..?
chẳng ai không trẻ đã già
âm dương thái dịch sinh ra trạng hình...
**
Mới hay chung? thỉ? ngọn? ngành?
mà nên Bát Quái- Dịch Kinh lưu truyền
đã nghe luận giải thì- phen
ngọn nguồn Kinh Dịch vẫn tìm chưa ra
rằng Kinh Dịch của Trung Hoa
nhưng sao gốc tích lại là Việt Nam?
đem ra kiến giải luận bàn...
tưởng như vớt dải khói loang lam chiều?
nghiêng ly cụng cốc vèo vèo
bao năm trắc dịch suy siêu lạc loài
tầm nhìn đích ngắm đà sai
một ly một dặm chệch ngoài biển xa?
Có gì phân biệt tàu ta
lấy gì để nói của nhà thửa (3*) nên?
chiều tà phủ bóng đêm đen
còn kia Chim Lạc lộ then Rồng Vàng!
**
Nước non từ (from)thuở Hồng Bàng
bể dâu cuộc thế giang sang đổi vần
Trải Đinh Lê Lý Trần giữ nước...
đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
đồ thư một quyển xem nay mới rành
Hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành...(4)
**
Lật trang sử chiến dã tranh
mấy ngàn năm trước tung hoành ra sao?
Cho hay sóng vỗ ba đào
màn thâm sơn thủy thấp cao lại về...
Đông- nam- tây- bắc phân kỳ
quốc gia- sinh? diệt? quần nghi “dê đàn”...
một Tần khởi (from) đất Hàm Dương(4*)
giới biên ngót triệu kilô- vuông sở hùng
kiếm côn bá đạo bão giông
tính kiêm "sáu nước"(5) vẫy vùng dọc ngang
lập ra Hoa Lục Trung Nguyên
trải bao triều đại thay quyền đọat ngôi
ngàn năm bành trướng chuyển rời
mà nay (to day!) rộng lớn gấp mười lần hơn!?
nghề ăn cướp được suy tôn?
ấy nghề ăn cướp chiếm chôm đất- người..!
ngỡ câu khái quát nực cười
mà là sự thực muôn đời đẻ ra...
thưa rằng văm minh Trung Hoa?
thì văn minh ấy chỉ là... lăng xâm!
(bây giờ là một Trung Quốc ngót 10 triệu km2, dân số~ 1,3tỷ). Biết rằng: xưa quen bá đạo đồ vương
anh hùng gây cảnh chiến trường mà nên
mấy ai hiểu được căn nguyên
phải là: dân ý- nhân quyền- tự do!
**
Lại xem đất Việt người Nam
địa danh Lưỡng Quảng Giang Nam có thừa?
hơn ba triệu kilô-vuông xưa
bao phen loạn lạc gió mưa hoành hành
ngàn năm chống chọi bắc xâm
cụm về cố thủ Cửu Chân- Tống Bình(6)
xưng danh con Lạc cháu Hồng
mười lần nhỏ lại muôn phần xót xa?
(nay chỉ là một Việt Nam hơn 300 ngàn km2 đất, dân số 90 triệu)
**
Thời gian chẳng trẻ chẳng già
vẫn còn khói lửa trên toà Luy Lâu(7)
hỏi ai? Ai? cướp của nhau
cảo văn? thư khố? ...ngọc châu ai giành?
cướp của người làm của mình
vốn nghề xâm lược đã thành thói quen...
tài năng cẩm tú thì- phen
còng tay- khóa- trói bắt đem công triều
thông tin bịt miệng đủ điều
cướp cướp? mất mất? bấy nhiêu phũ phàng..?
Ví như cung điện Thiên An(8)
của người Nam Việt  Đình làng chế ra...
miệng đời nói ấy Trung hoa
sao không biết nói của ta đình làng?
trống đồng ta đánh lừng vang
làm sao chống được bạo tàn lắm phen
cho nên Nam Bắc trắng đen?
Kẻ quen ăn cướp... Người quen chạy dài(8*)...
ngàn năm xưa- dám nói sai?
chứng nhân- chứng vật- hình hài huyết chi..!?
giặc vào lấy hết... đem đi...
Dịch Kinh- Quốc Bảo nghiệm suy cũng là...
**
Than ôi khí vận yên hà!
hồn xửa trắc ẩn thấm xa muôn trùng
Tàng thư Nam Việt rỗng không
chỉ còn khắc quẻ trống đồng(9) làm tin...
đầu Càn “hanh lợi nguyên trinh”
Lý Càn- Nhân- Cách(10) dưỡng sinh giống nòi
ngữ ngôn “vật khí” thay lời
Đồng Nhân quây lấy mặt trời đúng tâm
biểu nghi Chấm- Vạch(11) làm vần
thụ căn diểu diểu” dương âm lập trình
cơ quyền còn chút kiện hanh
tự tôn mười tám bản danh công đường
Càn Vương tức Kinh Dương Vương
chữ đầu tiên khởi cội nguồn nước Nam
Cách nay hơn: năm ngàn năm..?
là người biến hóa tiếng tăm lẫy lừng
Khảm Vương là Lạc Long Quân
thuận hành bát quái... thuộc vần cửu cung
lại xưng... Giáp Ất... đủ vòng...
làm thành "mười tám đời Hùng"(12) nối nhau...
(Lần lượt <8 .="" i="" qu="" t="">: Càn Vương, Khảm Vương, Cấn Vương, Chấn Vương,
Tốn Vương, Ly Vương, Khôn Vương,  Đoài Vương...
<10 .="" can="" n="" thi="">:Giáp Vương, Ất Vương, Bính Vương, Đinh Vương, Mậu Vương, Kỷ Vương, Canh Vương,Tân Vương, Nhâm Vương, Quý Vương)
**
Thần cơ dịch số cơ màu
sa phù dĩ chỉ” đời sau chớ lầm...
Rõ ràng “mộc biểu thanh thanh
thập bát tử thành”(18) tiên tổ đã gieo?
“toàn thư sử ký” (13) cũng nêu
đông a nhập địa”... gặp nhiều tai ương!
cho hay khí dịch đoạn trường
phải chờ “ma quỷ dọn đường (14) loé ra..?
**
Xem thêm dã sử nước nhà
“Lĩnh Nam chích quái” (15) truyền qua miệng đời
dân man hay bị lọc lòi
quỷ ma xâm hại buông lời rủ rê
Long Quân thường phải trở về
cứu dàn con dại trăm bề khốn nguy
diệt xương cuồng diệt hồ ly(16)...
nạn từ phương bắc chi chi... thực thà...!
**
Ngàn năm xưa ngỡ rất xa
chẳng qua khép lại bóng qua một ngày
luận thời ai biết ai hay
tháng năm con cháu ngày rày đã quên..!
văn nhân sĩ tử mọi miền
hãy đem chớp mắt nối liền ngàn năm..!
mới hay Kinh Dịch trữ tàng
gốc từ bảo khí Hồng Bàng Rồng Tiên!?
----------------------------------------------------(P.V.H)*
Chú thích: (1)-Nguyên văn Sấm Trạng: “Sáng cửu thiên ám vầng hồng nhật- 創九 天暗彙紅日”- ý rằng trên trời sáng mà trần gian hàng ngày sao tối tăm thế!; (2)-Sấm Trạng "..mê đồ": ý nói trời mở cơ làm thiên hạ mù mịt, không rõ lối mà đi, người dân như lâm vào mê cung; (3)-Lời dạy của Khổng Tử :“ôn cố tri tân, khả dĩ vi sư- 瘟故知新 可以為師”: thông hiểu sử sách, việc cũ... để biết cách thức- hệ quả... nên làm thờii nay, việc mới ra sao? thì có thể làm thày!; (3*)-chữ "thửa" theo cổ nghĩa là làm "vật dụng" cho mình, tức lấy gì chứng minh là của mình?; (4)- Một đoạn mở đầu (trích) trong một bài Sấm Trạng Trình; (4*)- Hàm Dương kinh đô nước Tần buổi đầu, nằm về phí tây nước Sở; (5)- Năm 221TrCN Tần Doanh Chính vua Tần kiêm tính 6 nước gồm: Sở, Tề, Triệu, Ngụy, Hàn, Yên- thống nhất được Trung Quốc, lên ngôi Hoàng Đế xưng là Tần Thuỷ Hoàng- quy mô TQ bấy giờ khoảng gần 4 triệu km2, nhưng với bản tính "bá đạo"- tức chỉ đi xâm lược, chiếm đoạt(!) mà nay diện tích có gần 10 triệu km2; gần đây còn tương kế tựu kế toan kiêm tính cả Biển Đông của VN và các nước Đông A (chuyện đường lưỡi bò... và bức công hàm 14/9/1958 của PV. Đồng!) với sự "giả đò" của CSVN ở cuối thế kỷ XIX; (6)- Cửu Chân chỉ Thanh Nghệ ngày nay;Tống Bình chỉ đất Hà Nội tên gọi thời cổ khoảng năm 750 -800CN; "tiếu đàm chuyện" cho rằng người Việt hay chạy dài, bỏ Quảng Đông- Quảng Tây, vì trong chữ "Việt -" có bộ "tẩu -" có nghĩa là chỉ chạy thoát!; nhưng một nghĩa khác là sáng, nhanh như sét...; (7)- Luy Lâu tên thành cổ chỉ Bắc Ninh ngày nay; (8)- Thiên An Môn-Cung điện lớn nhất của Trung Quốc xây dựng vào thời Minh khoảng đầi thế kỷ 14- (XIV), do Nguyễn An- KTS- một thợ cả tài hoa của Việt Nam bị giặc Minh bắt- ông làm tổng công trình sư thiết kế và xây dựng, (cùng hàng vạn thợ thủ công khéo tay, các thầy thuốc giỏi, nhân tài, và con gái đẹp VN... bị bắt về phương bắc, giặc Minh lại cho mang đi hoặc nếu không mang đi dược thì đốt hết tàng thư di cảo Việt Nam và nhiều việc bẩn thỉu khác... Điều tương tự cũng xảy ra với thời Hán xâm lược VN và trước nữa thời Triệu- mặc dù Triệu Đà lại gia nhập cộng đồng Nam Việt tức VN ngày nay...); (9)- Bát Quái được cho là đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ- Hoàng Hạ thuộc văn hoá  Đông Sơn Việt Nam, các nhà khảo cổ tìm được ở Thanh Hoá, đồng bằng Bắc Bộ; (10)- Trên trống đồng có khắc các quẻ Lý, Thuần Càn, Đồng Nhân, Cách- đúng như nhà NC Nguyễn Thiếu Dũng xác định; (11)- Thực chất ký quái (theo tôi Chiêm định!) đầu tiên là dụng "Chấm và Vạch", khắc cụ thể trên trống Đồng Ngọc Lũ của người Kinh Việt- biểu nghi hai khí Âm- Dương (Cái- Đực, ẩn dụ vật khí của đàn ông!)- khi viết nhuận tay hơn, nhưng sau này người ta- (theo Khổng Tử...) có thể là Văn Vương buổi đầu bị nhốt trong ngục Dữu Lý, đem ra nghiên cứu, viết trên đất mà suy ngẫm, hẳn thấy nét chấm dễ bị mờ khuyết, mới đổi chấm sang vạch đứt; mà ngày nay ta theo đó..! (12)-Theo phả tịch Đền Hùng còn ghi đến nay đủ "8 quái và 10 thiên can" là biểu nghi Miếu tự, đủ 18 đời vua Hùng- kể từ Càn- Kinh Dương vương, khởi từ Kinh Dương Vương tức Lộc Tục ở ngôi 86 năm, truyền không rõ bao đời (từ Nhâm Tuất 2879tr.CN tới Đinh Hợi 2794tr.CN) miếu hiệu Chi Càn Vương là chi đầu ngang với thời Tam Hoàng cổ đại ở phương bắc; cho đến Hùng vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương (từ Quý Dậu 408tr.CN tới 258tr.CN) miếu hiệu Chi Quý vương, ngang với năm thứ 17 đời Uy liệt vương và năm thứ 56 đời Chu Noãn vương nhà Đông Chu (biết rằng thời Hùng Vương vẫn sùng đạo Mẫu hệ nên có cách “truyền ngôi theo huyết thống trực hệ và- huyết thống liên chi”- tức là khi truyền theo trực hệ mà hết người nối rõi, thì tìm người chi khác mà truyền để tiếp tục, do vậy một đời Vua Hùng mới hàng mấy trăm năm kéo dài... mà các sử gia thời hiện đại không lý giải được rồi cho là không có cơ sở? than ôi sử gia mà không biết gì cả vậy! buồn thay, buồn thay!!). Để chống lại giặc Bắc Tần Thủy Hoàng, và nghe lời Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn (con rể Vua) nhằm đoàn kết nội bộ Vua (Hùng Duệ cuối cùng, chỉ sinh con gái) đã nhường ngôi cho Thục Phán, là cháu trong nội tộc đang làm bộ chúa Tây Vu. Thục Phán, cảm kích làm cột đá thề giữ vững sơn hà xã tắc đời đời thờ phụng các vua Hùng; rồi lập nước Âu Lạc đóng đô ở Cổ Loa và lên ngôi, xưng là An Dương vương. (13)- Sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, viết vào thời Lê Thánh Tông (1460-1497) có chép “đông a nhập địa-東阿入地“- có lẽ do vậy mà người phương đông từ thế kỷ XIX luôn lao đao trong khói lửa?; (14)-Sấm Trạng Trình nguyên văn “trời sinh lũ quỷ dọn đường, để cho thánh xuất khảm phương sau này”; (15)- Lĩnh Nam chích quái: truyện cổ dân gian Việt Nam tác giả là Nguyễn Qùynh và Kiều Phú biên soạn vào thế kỷ XV có viết: “Than ôi! Lĩnh Nam liệt truyện có phải chỉ riêng khắc vào đá, viết vào tre, mới là quí hơn bia miệng đâu? từ đứa trẻ hoi sữa đến cụ già bạc tóc, đều truyền tụng để tỏ lòng yêu dấu, để tỏ ý chê trách thì tất là có quan hệ tới cương thường phong hóa..!”; (16)-Truyện Xương cuồng tức là Mộc tinh, truyện Hồ ly tinh, Ngư tinh, là những truyện trong Lĩnh Nam nói về công lao của Thuỷ tổ Việt Nam xây dựng bảo vệ Sơn hà Xã tắc và dòng dõi Lạc Hồng. (-------------PVH)*./.

KTS Phạm vũ Hội:
Truyện phụ thêm:
     Đã từ lâu, nhiều người cứ băn khoăn về câu hỏi tại sao xưa các “bậc Nam kiệt” cứ gọi người phương bắc, các “bậc hảo Hán” tức người Tàu là “Các chú”- lúc sẵng giọng thì “ôi dào! bọn các chú” có nơi chuyển âm thành “cắc chú”, chê họ thâm hiểm; Lại nhớ rằng hồi nhỏ, nghe các vị túc nho rành rọt chữ nghĩa kể về chuyền tiên tổ Hồng Bàng mới biết rằng sở dĩ gọi như vậy là vì người Nam và người Bắc vốn tổ tiên xưa cũng là anh em, mà người Việt là anh và người Tàu là em đích thị!. Cụ thể là cháu ba đời của Viêm Đế- Thần Nông theo lệnh trời, và cha mình làm Vua toàn cõi, khai sinh loài người, theo lời cha dặn dạy giống người da vàng phương đông trồng lúa- Ngài Biểu danh là  Đế Minh. Ngài lấy bà Vụ Tiên- một vị nữ tiên ở thượng giới, sinh được hai người con trai, lớn là Lộc Tục, nhỏ là Lộc Linh. Khi già về trời, Đế Minh định truyền ngôi cho con trưởng là Lộc Tục, làm vua phương Bắc, cho Lộc Linh làm vua phương Nam. Nhưng Lộc Tục nói với cha, phương Nam nóng nực, có nhiều chướng khí, đất đai hẹp hơn, dân sự ít lại ham chơi, xin nhận khó khăn làm vua thay em, để Lộc Linh kế ngôi ở phương Bắc, đất đai rộng lớn, dân sự phồn thịnh hơn, thuận tiện cho em hơn. Đế minh cho là người nhân hậu, ngài chấp nhận. Sau đó Lộc Linh lên ngôi làm vua phương bắc, trông coi từ tả ngạn sông Trường Giang trở lên, lấy hiệu là Đế Nghi. Lộc Tục làm vua phương Nam, từ hữu ngạn sông Trường Giang trở xuống, thủ phủ ở Động Đình Hồ, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, Miếu hiệu là Càn vương, Ngài hay đi đây đó, sống rất phóng túng, biến hóa không biết đâu mà lường. Ngài lấy con gái Thần Long Động Đình hồ mà sinh ra Sùng Lãm, Lãm kế ngôi, tự xưng là Lạc Long Quân, tài giỏi như cha, đi dưới nước như đi trên cạn, Miếu hiệu là Khảm vương... nghi biểu theo quái dịch. Sau Lạc Long Quân lấy con gái Thần Núi Đế Lai là bà Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng nở ra trăm người con trai... là tổ tiên người thuần Việt ngày nay...
     Nhiều lần tôi kể lại và giải thích cho mọi người nghe, cố tìm trong sách để dẫn, nhưng các sách thông sử thời nay viết về Hồng Bàng thị lại nói, Lộc Tục là em, Đế Nghi là anh? thậm chí không có cả cái tên “Lộc Linh”. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” của Viện Văn học giới thiệu- 1965, tái bản lần thứ 2 năm 2004- nhà xuất bản VHTT; Sách “Lĩnh Nam chích quái” xuất bản 1990- nhà xuất bản văn học, cũng nói vậy! tôi cứ băn khoăn mãi!.. Tết 2010, đi du xuân, thắp hương  Đền Hùng, tôi mua quyển “truyền thuyết Hùng Vương- thần thoại vùng đất Tổ” do Vũ Kim Biên sưu tầm biên soạn, xuất bản 2008, tôi thấy câu chuyện trở lại đúng với truyện hồi nhỏ tôi được nghe... Vậy là hơn 50 năm mới thấy mình không phải là ốc xạo với bạn bè con cháu. Ôi! Dã sử vẫn có giá trị ở chỗ đó! thiện tai, nam mô phật!.
---------------------------------------------------------------------------------------------------(PVH)

KTS Phạm Vũ Hội
Sấm Trạng Trình: “thiên cơ tuy bất tiết, bất tức đắc ngôn nhiên
天幾雖不絏不息得言然,
 xin hiểu là:
thiên cơ tuy không được tiết lộ, nhưng thực chất có thể tiết lộ...
tuy nhiên... không tiết lộ theo cách nói thông thường”


Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình
có bài ca chiêm rằng:
---------
À.. ơ!
chừng ai qua đất Thương Khâu(1)
xuôi về  Đông Hải(2) nhắc nhau đôi lời
mênh mông biển cả đầy vơi
dây văn dây vũ... rạch ròi đã quen...
hóa phong thắm đỏ hoa đèn
thiên cơ dịch khí mọi miền đã gieo
bão giông ai vững tay chèo
  “đáo tầm sử địa...(3) căng lèo thửa nên...

đế cư định tại thư thiên (4)
sơn hà xã tắc tổ tiên khơi dòng...
vẫn thì núi Tản non Nùng(5)
mười tám Đời Hùng cháu cháu con con...
chữ rằng: non nước nước non
tổ tiên tiên tổ(6)...mãi còn dài lâu
À ơ!
dù ai buôn đâu bán đâu
đến ngày giỗ Tổ bảo nhau mà về(7)
dù ai vàng ngãi bộn bề
nhớ cha nhớ mẹ mau về hỡi con..!
À.. ơ!
nó lú thì chú nó khôn (8)
một vầng sinh thái vẫn luôn tươi nhuần
nguyên hanh trinh lỵ (9) - dụng tâm
trí tri cách vật (10) hồi lần mới ra
chừng ai dấy loạn can qua?
chừng ai quấy đảo sơn hà đòi phen?
hải hồ sửa cấy giáp tên
cơ quyền lắm bận chinh yên đã từng(11)...
À.. ơ!
vang vang ấy tiếng trống đồng
âm âm ấy tiếng binh nhung dậy trời
tốn” cung ấy chốn à ơi...
từng phen triệt phá chôn vùi bóng “khôn
quái trời nắng gió tròn vuông
tốn khôn (12) ngũ quỷ chuyện buồn lắm thay!

mấy phen mặt dạn mày dày
hùng binh xâm phạm thửa ngay bóng chồn(13)
bon chân ngựa đá tung bờm
Kim Âu non Việt phú thơm để đời(14)
bằng chừ! chén rượu làm vui
chả chi thù tạc dập vùi mà thương!

đừng nên bá đạo đồ vương
thửa sinh cái nết chết trương chẳng chừa(15)...
biển Đông vốn vẫn biển xưa
dịch Nam khí Bắc gió lùa vẫn Nguyên(16)
ngõ hầu từ thuở tiên thiên
một vùng Đông Á nghề riêng cũng từng...
cờ đi xe chạy thì hung
anh hùng lại nẩy anh hùng thì phen...
chỉ buồn con đỏ con đen(17)
nghiêng trời lệch đất nổi chìm khốn thay
xanh kia thăm thẳm cao dầy
cuồng phong chiến nọ trận này vấn vương
À.. ơ!
rày ai gây cảnh chiến trường
người thua kẻ thắng mối giường lặng đau(18)
ngàn năm trước ngàn năm sau
vẫn là hai tiếng: hây tàu..! hầy ta..!
vẫn là Trác Việt- Lục Hoa(19)
vẫn là khí mạch sơn hà rạch ngang...
hỏi ai thấu lý Khôn Càn(20)
cát hung phù dịch mênh mang cõi trời
chỉ khi nhắm mắt lìa đời
mới hay thiên mệnh vận thời song song...
kê lai hầu đáo...” (21) thửa chưng
chính kỳ phân vị... (21) cũng mong rõ ràng...
nhắn ai uống nước nhớ nguồn
nuôi ong tay áo (22) thì buồn lắm thay!
cáo trong nhà (23) đấy vẫn đây
sáu trăm năm cũ chửa hay cũng đành
ưng phòng hậu họa...” (24) phù kinh
lời truyền nhắn nhủ hư danh chớ màng
À.. ơ !
nước non từ thuở Hồng Bàng
bể dâu cuộc thế...” (25) tính toan cũng nhiều
cũng nhiều cũng bấy cũng nhiêu
Bắc Nam chiến họa... ai điều họa ai?
Sấm rằng:
Nước Nam thường có thánh tài(26)...
Sơn hà vững đặt mấy ai tỏ tường
Kìa Nhị Thủy(27) nọ Đao Sơn(28)...
Bãi Ngọc(29) đất nổi Âu Vàng(30) trời cho...

Học cách vật(31) mới dò tới chốn...
chép ghi làm một bổn xem chơi
muôn việc cũng bởi tại trời
suy thông mới thấy sự đời nhường bao!”
----------------------------------------------------------(P.V.H)
Chú thích: (1)-Thương Khâu- một địa danh ở nước Lỗ (TQ) 770-450 tr.CN, thời Xuân Thu, nay thuộc đất Trịnh Châu. (2)- Đông Hải- tức Biển Đông thuộc Việt Nam ngày nay, trước gồm cả đảo Hải Nam từ thời Triệu Đà Lập nước Nam Việt- xưng Nam Việt Vũ Vương 207trCN, thời Tần Nhị Thế, gồm cả vùng Lĩnh Nam. (3)- Sấm Trạng nguyên văn: “hữu tình hữu thủy thực chi danh, mã ngưu chi tuế thị rành rành, can qua trư thử giang đông xuất, đáo tầm sử địa ngộ minh quân- 有 始 食 名.馬 伶.干 出.到 - hiểu rằng có tình có nghĩa đó là chính danh, tức có nguồn cơn thì ai ai cũng đã biết; từ năm 2002 tới 2009 đã bắt đầu đôi co thấy rõ, ám chỉ việc Ta, Cao ly, Nhật, và Tàu tranh cãi về biên giới hải đảo biển Đông, can qua 2007- 2008 chiến tranh xuất hiện (giữa Việt Nam... và Trung Quốc về biển Đông)- chỉ có ngược dòng lịch sử, chứng niên văn chỉ, mới phân định được trắng đen phải trái vững chủ quyền- minh quân sáng suốt (4)- Nguyên văn: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư, hiệt nhiên phân định tại thiên thư, như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư- 南國山河南帝居 .頁然分定在天姐 .如何逆鹵來侵犯 .女等行看守敗噓-Là tuyên ngôn đầu tiên của Việt Nam, được cho là của Ông Lý Thương Kiệt, một danh tướng thời Lý (1010-1225)- tức là “nước Nam của Vua Nam (người nam), trời đã định, nhược bằng Giặc xâm phạm, thì "bay" chuốc bại vong mà thôi!”. (5)- Núi Tản tức núi Tản Viên có thờ Thần Tản Viên một thượng đẳng thần khai sinh nước Việt- ngài tên thực là Nguyễn Tuấn cũng tức là Sơn Tinh; non Nùng là đất Hà Nội ngày nay. (6)- Lấy ý từ câu đối của nhà thơ Tản Đà “Tiên tổ tổ tiên tiên tổ cũ; nước non non nước nước non nhà” dâng lên Đền Hùng nhắn nhủ rằng: tiên tổ nước non là một sự thống nhất có ngọn nguồn. (7)- Nguyên văn: ca dao “dù ai đi ngược về xuôi, nhớ về giỗ Tổ mồng mười tháng ba, dù ai buôn bán đâu xa, nhớ về giỗ Tổ tháng ba mồng mười. (8)- Ngạn ngữ Việt: ý nói người này có kém cỏi bất tài nhưng còn người khác chẳng kém cỏi như thế! Anh kém thì... em chăng? Già kém... thì trẻ chăng? (9)- Chỉ “tính dịch” của quẻ Càn nguyên văn: “Càn, nguyên hanh lỵ trinh- 乾元亨利貞“ quẻ đầu tiên trong bát quái (quái cũng gọi là quẻ). (10)- hai điều trong tám điều (bát mục tam cương) do Đức Khổng Tử nêu dạy, mà con người cần nắm bắt tự tu; Trí tri: là sự biết và sự hiểu đến cùng tận; Cách vật: là nắm được quá trìng vận động, trạng thái sự khởi đầu và kết thúc của muôn vật muôn việc... (11)- Nước Việt Nam từ khởi Tổ Kinh Dương Vương- Lạc Long Quân nhiều phen chống xâm lược đếu chủ yếu họa từ phương Bắc, khí Bắc nhưng gặp dịch Nam đều được hóa giải. (12)- Tốn, cư cung của Việt Nam, Khôn, cư cung của Hán Hoa, theo quái dịch Tốn- Khôn sinh ngũ quỷ, Tốn hoá giải được Khôn nhưng hay bị Khôn làm hại... Lịch sử minh chứng từ xưa y mực hệt. Người Trung Quốc xân lược phương Đông phương Nam thì không thể vững, Asean đoàn kết có thể đánh bại các ý đồ bất thiện của Trung quốc muốn bá chủ bá quyền, muốn biến các nước nhỏ thành sân trước sân sau của mình. (13)- Giặc phương Bắc kéo xuống phương Nam thường bị đánh và bỏ chạy. (14)- Thửa ý theo câu thơ của Vua Trần Nhân Tông lần thứ hai chiến thắng giặc Nguyên “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, sơn hà thiên cổ điện kim âu- 社則兩回勞石馬.山河千古殿 金甌”- nghĩa là nước non hai lần chiến trận, giang sơn bền vững sáng tươi muôn thuở”. (15)- Các nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay chủ trương bá đạo trong thời kỳ mới với một nền kinh tế và quân sự hùng mạnh trong điều kiện cực quyền với từ ngữ che đậy “trỗi dậy hòa bình” sẽ là một sai lầm dẫn tới phát xít hóa làm hại chính dân tộc minh. (16)- khí lạnh từ phương bắc “địa khí” tràn xuống phương nam gặp khí nóng “thiên khí” hóa dịch bệnh, chủ họa hại hủy diệt, biến ngẫu, không biết đâu mà lường.(17)- Con đỏ con đen: ám chỉ lê dân, bách tính, trăm họ, trong sự trói trịt của pháp trị cực quyền. (18)-Người dân bị kẻ cầm quyền ra lệnh, như đàn dê theo con đầu đàn. Sấm dạy: “dê đi dê lại tuồn luồn, đàn đi nó cũng một muôn phù trì” vì thế đi xâm lược nước người rất vô lý mà vẫn đi? sinh ra người thua kẻ thắng, tạo thành thù hận, khi chưa có dân quyền tự do nên khó hóa giải, phản đối thì bị truy chụp, làm mất thiện khí và đau lòng người. (19)-Trác Việt Lục Hoa- người xưa hay dùng chỉ dân tộc Việt Nam và Trung Hoa. (20)- Lý Học xuất từ Càn Khôn: “Càn nãi thiên chi thống, Khôn nãi thuận vi thiên- 乾乃天之統.坤乃 順 為天“: phương tây ứng Càn, phương đông ứng Khôn. Hãy hiểu ra rằng: phương đông mà thuận với phương tây sẽ làm được cái việc sinh khí ở thế gian, thái bình thịnh trị, thế giới sẽ mau mắn (như người vợ theo người chồng, âm theo dương) ngược lại sẽ tranh hành loạn lạc mà lịch sử đã hiển hiện xưa nay rất rõ- đây là bí mật thiên cơ- độn thấy rằng: nay có thể nói ra được!. Dịch nói: Càn: nguyên hanh lỵ trinh, Khôn: nguyên hanh, lỵ tẫn mã chi trinh- 乾:元亨利貞-坤:元 亨.利牝馬之貞“- tức Càn là trời, gốc của sự sáng, sự trong sạch, lợi cho muôn loài, Khôn thuận theo cũng sẽ làm được cái việc của trời như thế, như con ngựa cái theo con ngựa đực mà làm cái việc sinh thành dâng tràn dịch khí đến cùng cực, lợi đến muôn dân rộng khắp; khác đi Khôn chỉ trùng trục như con trâu cái hung hăng khó bảo, có thể gây họa..! đến mê muội ngu độn.. Cho nên phương tây (và một phần cực bắc) luôn đi đầu trong khoa học kỹ thuật phát minh sáng chế, làm ra máy móc, thiết bị, ánh sáng, linh kiện điiện tử ứng dụng... vân vân... phương đông chỉ học theo (cả ăn cắp, bắt chước...) mà làm thì có thể khéo léo hơn, lịch sử cũng đã chứng minh y mực hệt (như TQ ngày nay được cho là đại công xưởng của TG); đủ cơ sở minh giải cho cuộc tranh luận gần đây trong giới báo chí hỏi rằng tại sao Trung Quốc chi ra nhiều tiền cho khoa học kỹ thuật mà ít có phát minh đủ tầm của trao giải Nobel. Minh chứng: hơn 2000 người được trao giải Nobel từ giữa thế kỷ XX đến nay thì 97% là người gốc ở phương “tây- tây bắc”- chỉ 3-4% là người gốc ở phương đông, nhưng những người này cũng đã phải cư trú hoặc có môi chứng học thuật tại phương “tây- tây bắc”. Cho nên có thể nói “trái đất cũng có đầu”. Sấm Trạng Trình có câu “đoài phương phúc địa giáng linh” hoặc “người đoài ấy cũng thực tài, mà cho người sở toan bài lập công” là cái ý như thế! người đoài lài người phương tây, cũng thực tài đấy! sao ta lại xua họ đi mà để cho người phương đông toan lập công? người sở (kẻ sở) là người phương đông (ám chỉ...ai- giờ ta đều biết!)- lại dạy “hiểu xuôi cũng được ngược thời mới nên!” cũng là ý ấy cả, tức hiểu ngược ta mới tri nghiệm sự đúng thuộc về khí dịch thiên cơ, thuộc về trời..! Ta cũng xem: thế kỷ XXI người phương đông đua nhau sang phương tây học tập rồi từ đó trở về phương đông làm cho phương đông phát triển rực rỡ- cho nên cần biết ơn phương tây và không nên cạnh tranh theo kiểu thiếu văn hóa với phương tây. Ngày nay người phương tây luôn đi đầu trong cứu trợ kinh tế khắp thế giới khi thiên tai lũ lụt xảy ra… “phải đem chớp măt nối liề ngàn năm”- có cái nhìn thời gian mới nhận ra những giá trị thiên cơ (21)- Sấm Trạng nguyên văn: “hầu đáo kê lai vị chính kỳ, quốc dân hãm nịch quốc dân di, dân dã dục dĩ chu như tống, phong nghĩ tung hoành thị mạc phi, thượng huyển hạ đảo nhân vô thủ, tài tận tâm hao thế lực suy, huyết chiến dê đàn nhân huyết chiến, kham tiếu không huyền tiệm thất ky- 旗.國 移.民 宋.蜂 誹.下 首.才 衰.血 戰.堪 “- nghĩa là năm hầu qua năm kê (79-80-81) đến, phân biệt mằu cờ sắc áo dân đen bị bức hãm mà di tản, nhưng là dân thì nhà Chu hay nhà Tống cũng vậy thôi! cuộc sống yên thân kiếm ăn là được; con ong cái kiến giặc giã đâu có coi trọng tiếng thị phi? mọi thứ đảo lộn dưới trên, dân vô thủ, là dân không dám suy nghĩa khác đi, mất trí tuệ? chiến tranh tiếp tục là nguyên nhân của chiến tranh này... huyết chiến khác?. Ôm trận nực cười cho nhân thế! như cây đàn đứt giây! Thiên cơ lạc phách!. (22)- Ngạn ngữ Việt khi Lê Quý Ly cướp ngôi nhà Trần mới lộ là Hồ Quý Ly, bấy giờ dân ta mới có câu “nuôi ong tay áo nuôi cáo trong nhà”- không biết rằng âm khí nuôi dưỡng ngay trong lòng non sông đất nước. (23)- ý nói vẫn lảng vãng khí dịch phản trắc khi là cư dân nước Việt- ngược lại dân Việt vẫn cả tin, nhưng cũng là vận thời. (24)- Nguyên văn 2 câu trong một bai thơ của Trạng Trình “trùng hưng dĩ bốc độ giang mã, hâu họa ưng phòng nhật thất khu- 重興已卜度 江馬後禍 應防入七區“ ý rằng hưng dực có thể vào năm Ngọ (2014)... nhưng “cái họa về sau...?” khí quái coi chừng xông tận cung đình tới bảy phần!?- xem ra có vẻ là thời nay? (25)- Nguyên văn Sấm Trạng Trình “nước non từ thuở Hồng Bàng, bể dâu cuộc thế giang san đổi vần...”. (26)- Một đoạn mở đầu trong một bài Sấm Ký của Trạng Trình- biết nước Nam ta luôn có thánh tài. (27)- Nhị Thủy- là hai vùng tụ thủy của đất nước Việt Nam ta gồm đồng băng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, lưu vực của 2 con sông lớn làm thành hai vựa lúa của đất nước (mà trước nay các bậc túc nho thức giả vẫn hiểu nhầm là chỉ sông Nhị Hà tức Hồng Hà). Vậy là Đức Trạng Trình (1491-1585) đã biết rõ vùng Chiêm Thành, Chân Lạp vận thế sẽ thuộc Việt Nam. (28)- Đao Sơn: chính là dãy núi Trường Sơn chạy dọc tận hoành sơn tới đèo Hải Vân như một lưỡi đao, cái xương sống của Việt Nam ta (trước nay các bậc túc nho thức giả không rõ cứ hiểu nhầm là 2 chữ Đảo Sơn, rồi cho rằng Trạng nói đến đảo Côn Lôn ở ngoài biển khơi phía Đông đất Nam Bộ). (29)- Bãi Ngọc- Chính là Hoàng Sa và Trường Sa gồm nhiều bãi đá ngầm ngoài khơi mà Chủ Quyền Việt Nam đã thực hiên từ thời Gia Long phục quốc 1802. (30)- Âu Vàng chính là toàn bộ Biển Đông cùng hải đảo mà Việt Nam giữ vững chủ quyền, hình ảnh như một cái Âu đựng nước dân ta vẫn dùng. (31)- Cách vật- đã giải thích xem mục (10), vận này hiểu ra? mới có thể “...bấy giờ quét sạch thú ly”./.
-----------------------------------------------------------------------(18/4/2010-KTS Phạm Vũ Hội)
---------------------
Hồi chuông điểm hẹn
Dân quyền- Đa nguyên, là văn minh nhân loại
---------------------------------------------( Luận thời- tri nghiệm- KTS PVH)
*
-Chúng ta đều biết loài người từ thuở mông muội sinh ra đến nay đã từ “không biết” tới “hiểu biết”.
-Ban đầu trần truồng bầy đàn, không biết vì sao mưa, gió, sấm, chớp?.. đến khi làm ra cái để mặc, biết ăn chín uống sôi, biết làm nhà ở, chế công cụ bằng đá, tiến tới kim loại, thế giới xung quanh dần được khám phá... Quan trọng hơn cả là biết mình có sự tồn tại?, rồi biết chiếm đoạt sở hữu, tranh giành, mặc dù chiếm đoạt tranh giành là hành vi xấu xa trên con đường tiến lên của nhân loại theo cách nghiên cứu sự tiến hóa...
-Đến khi biết sáng tạo ra chữ viết, giao tiếp văn bản, công cụ cơ máy... Con người cũng đồng thời biết lập ra quốc gia triều chính, thì nảy sinh “Bá đạo, Cực quyền, Đế quốc”. Lịch sử vốn viết theo kẻ mạnh, sự thật chân lý- thiện ít được lộ sáng, nên lành ít dữ nhiều... Thánh nhân muốn cứu giúp dân, bèn đặt ra Vương đạo, Lễ nghi... Tới Đức Khổng Tử- Vạn Thế Sư phát hiện ra nhân mệnh(*). Ngài dạy “Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã- 不知命無以為 子也, tức là không tri mệnh không phải là người hiểu biết”. “Người đời” chỉ mới hiểu một chiều, cho rằng Ngài dạy người ta hệ lụy với số mệnh, khiến chúng an phận, cam chịu. Quả là sai lầm. Cần hiểu đúng lời dạy của thánh nhân rằng, con người sinh ra trên cõi đời này đã được khí tiên thiên định rõ năng lực, có cá tính; biết được “mệnh mình” sử dụng cho hợp lý, thì mới thành công, đem lợi ích cho đồng loại, ấy là hiểu biết; hiểu biết sâu sắc nữa thì rằng, đã biết tôn trọng “nhân mệnh mình”, thì cũng cần biết tôn trọng “nhân mệnh người”. Con người là khách thể trân trọng của con người, ấy là càng hiểu biết, đồng nghĩa người ấy là quân tử. Quân tử tức “hiểu biết và thiện”; nhiều kẻ hiểu biết mà không thiện sao gọi là quân tử? Suy rộng ra, đối chiếu với thời nay, ngộ ra rằng: Đức Khổng Tử đã dạy ta từ rất sớm, phải biết tôn trọng con người, biết cộng sinh, chính là tôn trọng Dân chủ Nhân quyền vậy!
-Học lịch sử, ta biết các nước phương tây từ thế kỷ mười bốn (XIV) đã biết đóng tàu lớn đi vòng quanh thế giới (Colombo, Magenlăng), biết vẽ bản đồ một cách chính xác các châu lục. Thế kỷ mười sáu (XVI) đã biết phát triển hàng hóa dồi dào, phát minh ra động cơ hơi nước, phát minh ra điện năng, công nghiệp phát triển, phồn hoa đô hội mọc lên khắp nơi... Chế độ phương tây cũng qua các kỳ vua, chúa, quý tộc, cuối cùng đi tới tự do cộng hoà... Bản Tuyên ngôn dân quyền nổi tiếng 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đã coi trọng tôn vinh con người, hai chữ ”Nhân quyền” được viết hoa thực sự. Tiếp đến là cuộc cách mạng của nước Pháp 1789, được mệnh danh là cuộc CM Châu Âu lập nên nhà nước Cộng Hòa Lập Hiến, Tự do- Bình đẳng- Bác ái, tiếp tục nêu cao nhân quyền... Vậy là vấn đề Nhân quyền đã được các nước phương tây giải quyết rất sớm, thế giới phương tây đặt ra luật pháp, cốt đảm bảo tự do nhân quyền, khiến mọi người đua nhau trổ thiên bẩm tài năng, làm tư bản(1), dân giàu nước mạnh, mọi sự bất công tiền tư bản, dần được xóa bỏ. Phép làm người “phú quý sinh lễ nghĩa”, càng làm phương tây mau mắn, văn minh thịnh vượng như ngày nay, nhiều nhà tỷ phú đang tìm cách giúp đỡ người nghèo, những ai đi tham quan phương tây đều đã chứng kiến... chứ không phải giàu có là độc ác, hay rằng tư bản tham nhũng bóc lột và đang giãy chết như cộng sản tuyên truyền!... (mấy ai hiểu được rằng Thời đại ngày nay, sinh thái kinh tế tư bản tự nhiên cũng không khác gì sinh thái môi trường thiên nhiên tự nhiên đều đang cần được bảo vệ như nhau!- đó là sự tồn tại sinh lực vũ trụ ở nhân thế mang tính đạo người)
-Học lịch sử ta cũng biết phương Đông, trong đó có nước ta, suốt từ thời Tần Thủy Hoàng, luôn chống Tàu, chịu ảnh hưởng tai họa Tàu. Người Việt phóng khoáng, khinh người Tàu là thâm, nhưng lại hay bắt chước mánh lới Tàu? tại sao? tại vì thông tin chủ yếu chỉ từ phương bắc! Mãi tới cuộc chiến tranh Nha Phiến, cuối đời Thanh 1840 vẫn chìm đắm như trong thời trung cổ, tức là đến giữa cuối thế kỷ XIX, mới tạm chấm dứt, rồi tới cuộc cách mạng Tân Hợi 1911, dân sinh- dân chủ- dân quyền mới phôi thai!.
-Giờ đây, phương Đông ta chỉ mới so sánh với thời cận đại, vì mới bắt đầu tiếp thu khoa học, bắt đầu học làm giàu... nhưng lại cực quyền bạo lực mà sinh tham nhũng- quốc nạn, không theo tự nhiên vốn có ở tài đức con người. Con đường làm giàu bằng thi đua: nịnh hót, quan lực, đè lên luật pháp công lý, vung tay ra nghị quyết, không bằng chính tài năng đi lên từ chủ sản xuất, từ lăn lộn trong kiếm sống, từ đó làm thủ tiêu động lực vật chất, làm xã hội lụn bại, dân đen khốn khổ “quan chức quyền lực, trở thành hàng hóa- lao động trở thành khổ nhục”... Xã hội cộng sản “XHCN” sụp đổ chính là vì vậy mà còn không nhận thức ra? CCCP là một điển hình.
(Ở đây ta cần biết: Đức Trạng Trình đã tiên tri về cái xã hội cộng sản như sau: “cửu châu do hùng khởi, thập nhị sứ quân hành, thiên ý đồng nhân ý, tam thập thước nhất thốn-九州由 雄起,十二使君 , 意同人意,三十尺一寸- tức là thế giới (thời mà) kẻ nhân danh anh hùng nổi lên, thì ý trời thống nhất ý với người? ba mươi mét cũng chỉ là một phân”- tức ám chỉ chủ nghĩa CS đã cào bằng các thang bậc văn hóa về giá trị bản thể nhân sinh, người có năng lực trí tuệ đều trở nên vô nghĩa(2), Cộng Sản quản lý hết của cải văn hóa; tự do, và quyền lực thực sự nằm hết trong tay kẻ nắm quyền!)
-Về văn hóa thì có một nhận thức tồi tệ nhất là xưa nay người Á Đông cổ sự, chỉ quan niệm bá vương, bá đạo, mới vinh quang, tức làm vua làm quan mới là có chí, có học... Đặc biệt lúc Pháp xâm chiếm, cái khí khái anh hùng giành độc lập được phen nổi lên, mọi đói khổ do trình độ canh tác lạc hậu, dân trí thấp, do “trí tri cách vật kém-” đều đổ cho giặc Pháp, chứ không biết rằng phải nhanh chóng học lấy cái hay của kỹ thuật Tư bản Pháp; thậm chí chính Pháp muốn “khai hóa” cho dân ta mới đặt ra chữ Quốc Ngữ, mới khuyến khích Tân văn, mở các khoa kỹ nghệ, tư nghiệp, làm báo chí, xuất bản... giúp cho “sự khai trí” mau lẹ... thì cũng bị “kẻ kẻ!” lợi dụng, hô hào dân ta bài xích luôn... “Đánh Pháp giành độc lập rồi giải phóng miên Nam”... Hai ba đời người cầm gươm cầm súng, đốt bỏ chữ Tây, chữ Nho, người Việt dùng tiếng Việt, đến nỗi mấy thế hệ hóa mù hóa điếc trước quốc tế... Ngỡ rằng có độc lập thì người Việt có dân quyền, tự do, sung sướng của cải tuôn ra như nước. Nào ngờ Cộng sản- một lực lượng bá đạo cực quyền, đã lừa dối dân chúng từ phương Bắc xuống phương Nam, từ CM tháng Mười (1917) tới CM Trung Hoa (1949)... Nước Việt ta cũng không thoát khỏi vòng kim cô đó (1945-1975)... Thì nay ở nước ta chẳng thấy bình đẳng tự do, chỉ thấy độc lập trong quyền lực, con ông cháu cha, dấu họ đổi tên, tập phong tập ấm, toàn con cháu chúng cả!? người tài đức bị chèn ép- phi nhân quyền. Sự dối trá đã có giềng mối ban đầu ngay từ thượng cấp, ngay trong quyền lực, kéo suốt 70 năm qua,  tận tới ngày nay...
-Thế là xét về lịch sử. Nhân Mệnh do Đức Khổng tử dạy ở phương Đông, từ 500 năm trước Công nguyên, trước cả Xôcrat- Plaston triết luận về “Chế độ Cộng hòa” thì mãi đến ngày nay, phương Đông vẫn chưa biết cảm hứng tôn trọng, lại còn xuyên tạc Ngài, giải thích ngài trong tư duy bá đạo- trong khi đó dân phương tây đã sôi nổi đấu tranh công nhận dân quyền- cộng hòa –cộng sinh, tôn trọng sự đối lập, sự khác chính kiến nhau, và hơn 200 năm qua luôn đi đầu trong việc giải phóng dân quyền, đem tự do bình đẳng bác ái, hạnh phúc cho dân chúng... (thấy cảnh biểu tình ở Thái Lan và truyền thông xuyên tạc, chẳng ăn nhập gì… mà thiên hạ cứ răm rắp!)
-Người phương tây cũng biết cách làm cho dân quyền không bị xâm phạm, mới đặt ra đa nguyên, để có tranh biện tranh cử, thấu lý, có lời hứa, để cho dân lựa chọn người mà mình tin tưởng, lại cũng biết cách phổ thông đầu phiếu, tức là dân tự bầu Tổng Thống trực tiếp, chứ không phải qua sắp đặt thỏa hiệp của Mặt trận- đoàn thể (ngày nay gọi là đảng cử dân bầu;hay đoàn thể- bản chất cũng là tay chân của Đảng). Lại thừa nhận các quyền tự do phản đối biểu tình tuần hành, khi Tổng Thống hứa hão, phản lại quyền lợi của dân chúng, thì dân chúng có quyền đòi, buộc họ từ chức...
-Người phương tây còn đặt ra tòa án có luật hình riêng, có quyền truy tố cả Tổng Thống, chứ không phải chỉ truy tố kết án dân thường, tội phạm. Một nhà nước kiểu như vậy biết đặt ra luật bảo đảm dân chủ cho dân, mọi công dân đều có tự do, quyền và bình đẳng, biết đặt ra luật giới hạn sự lạm dụng quyền lực của kẻ cầm quyền mà lâu nay ta vẫn kỳ vọng, luật pháp ấy lại dựa trên các giá trị công lý xã hội- quyền tư pháp, chứ không dựa trên những sở hữu quyền lực chỉ đạo riêng rẽ, ấy là thể chế Tam Quyền phân lập.
-Ở nước ta và Trung Quốc... “Tam quyền phân lập” được nói đến từ rất lâu, từ thời Pháp, từ thời Tôn Trung Sơn (1905-1911), các tiền bối đấu tranh “duy tân” ở ta cũng từng đề cập, nhưng thời nay không thấy đả động đến và rất sợ nói đến? Có điều thú vị là Trạng Trình đã có Sấm về điều này. Ngài dạy:
đến thời thịnh trị còn lâu
 đành đến tam hợp chia sau sẽ làm
. Lại dạy:
đến thời thiên hạ vô quân
 làm vua chẳng dễ làm dân chẳng lành”.
-Ấy chính là Tam quyền phân lập- Đa nguyên- kiểu chính thể nhà nước Dân quyền gồm: Tòa án- Quân đội- Bộ máy nhà nước hoạt động theo Hiến pháp- Pháp luật- chia ba độc lập: lập pháp tư pháp- hành pháp, như kiềng ba chân. Cổ nhân xưa chuộng hư kinh, cứ lại nhầm ra “tam tài”. Hiểu rằng vô quân, không vua, nhưng có Tổng Thống; Tổng thống lãnh “trách nhiệm làm vua” phải được dân bầu! phải có năng lực điều hành đất nước, tức là có thực tài, chứ không phải chỉ nói xuông, ra lệnh; không làm được thì xin ngài xuống cho? Dân thì không thể coi họ như rác được!. họ sẽ “dữ tợn” bởi không đáp ứng nguyện vọng của dân, họ sẽ biểu tình, ném cà chua trứng thối vào mặt Tổng Thống, đòi ông ta từ chức, là chuyện bình thường...
-Té ra “Tam hợp chia sau, làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành” là thế!.. Thế còn Quân đội? Quân đội do dân nộp thuế nuôi dưỡng thì là của dân, bảo vệ dân, bảo vệ quốc phòng an ninh theo lập hiến, không phải là công cụ bạo lực của riêng Đảng Nhóm nào? và không can thiệp vô bổ vào hành pháp... chỉ can thiệp bảo vệ quyền lập hiến của dân khi an ninh bị đe dọa.
-Vậy Thánh nhân cũng đã biết loài người trước sau cũng phải đi đến “tam quyền- đa nguyên”. Đức Trạng còn nói “bao giờ bạc giấy ra tro, cua còng đổi gọng nhà nho lại dùng- tại sao bạc giấy lại ra tro? tại vì đến thời dân quyền tự do, người dân tiêu tiền qua tài khoản, tiêu bằng Thẻ- Card; ý là người dân, vốn thân phận cua cáy, nay có quyền, ấy là: cua đổi gọng! và các giá trị văn hóa, phong hóa lại phục hồi, tìm về nguồn cội, thì chữ Nho lại được coi trọng trở lại! ấy là lại dùng?...-
-Theo đó... rõ là con đường của dân ta vốn đã được vạch ra nhất định từ lâu rồi! người trí tuệ phải biết điều đó!
-Thì đấy chính là sự Tam hợp, dân quyền làm nên văn minh thịnh vượng mà dân ta đang hướng tới vậy! Trong khi đó kẻ cực quyền đang tìm cách kìm hãm, lừa dối, bằng cách dọa rằng đa nguyên sẽ loạn! Thật đáng hổ thay, sĩ khí sĩ phu Nam hạ hiện đang như gà mắc tóc? Giáo sư, tiến sĩ, văn nghệ sĩ, kỹ sư, công chức hiện cứ lơ láo, tặc lưỡi nhìn nhau, thậm còn bị khinh thị là tiến sĩ giấy! bôi bác hơn, họ bị coi là “thứ” làm lúa cây tươi tốt? hoặc có lẽ là “giấy” chỉ vì suy nghĩ tốt và nhân thiện chăng...
-Biết rằng Trạng Trình cũng đã dạy “đấu gươm đấu trí đấu lời, đấu lời còn khó gấp mười đấu gươm”, vì sao? Vì đấu lời cần đến sự hiểu rộng về thiên lý, lòng dân phải thức tỉnh, dân trí phải thực sự sở đạt kỳ ngộ!. Qủa đúng thế chăng?
-Vậy dân quyền là gì? Là sự tôn trọng cá thể con người, tài năng trí tuệ thiên bẩm được tự do phát tiết, không được tước đoạt quyền tự bộc lộ của họ, một khi sự tự bộc lộ ấy không làm hại đến cộng đồng, Đó là quyền đi lại ăn ở, ngôn luận, lao động, làm giàu, vui nhộn, hoặc hò hét phản đối, tập hợp một cách hòa bình... Đó là quyền tự lựa chọn người đứng đầu quốc gia dân tộc mà bản chất họ là công dân lao động có tình thương yêu đồng loại luôn tôn trọng dân ý...
-Hãy đọc bản “tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ công bố vào ngày 2 và 4 tháng 7-1776 có đoạn” Chúng ta coi sự thật sau này là hiển nhiên, và không thể chối cãi được: Mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được tạo hóa phú cho những quyền không thể nhường hoặc bán cho kẻ khác. Trong các quyền ấy, đứng đầu là quyền sống, quyền tự do và quyền đi tìm hạnh phúc; để hưởng các quyền ấy loài người đã lập ra Chính Phủ- mà uy quyền do người bị cai trị cử lên; khi một hình thức Chính Phủ đã ra mặt phá hoại những mục đích mà nó theo đuổi vì kẻ đã thành lập ra nó, thì dân chúng có quyền thay đổi , hoặc hủy bỏ để thành lập một Chính Phủ mới. Nền tảng của chính phủ mới này, phải được đặt trên nguyên tắc kể trên, chính quyền tổ chức theo những thể thức mà họ thấy có thể đem lại cho họ nhiều an ninh và hạnh phúc hơn hết…” (Thomas Jefferrson- theo Nguyễn Hiến Lê).
-Có thể bình luận rằng: Các nhà sáng lập Hoa Kỳ không dựa vào uy quyền để thành lập chính phủ, mà dựa vào nguyên tắc tự do, tôn trọng nhân quyền, nhân mệnh, trùng với lời dạy của Khổng Tử, của Sấm truyền. Xem lại, đối chiếu, thấy “bản tuyên ngôn -1945” của nước Việt Nam DCCH đã cắt bỏ phần căn bản dân quyền quan trọng ở đoạn dưới, mà chỉ trích dẫn đoạn trên của tuyên ngôn Hoa Kỳ rồi tung hô hoa mỹ, đủ thấy sự thiếu trung thực và tính bền vững... như thể nhận lấy cái hộp hào nhoáng mà bỏ đi viên ngọc bích nằm trong! Hay nói khác đi đó là một thủ đoạn cực quyền, nhằm tước quyền của dân chúng... Quả là bỉ ổi, kinh tởm, láu cá, đáng khinh... kẻ rắp tâm ăn cướp đã lợi dụng khi ấy dân ta chưa được khai trí đầy đủ... Không trách dân Việt ta vẫn còn khốn khổ.
-Lại nói rằng Phương Đông, đang ở thời cận đại, đang tiếp thu khoa học, công nghệ, nhưng nhìn kỹ ra, phải trừ một số nước, đặc biệt như nước Nhật, nước Hàn, Đài Loan. Nước Nhật, Hàn, Đài Loan ở Phương Đông nhưng nhờ có nhân quyền họ đã theo kịp những nước hàng đầu thế giới. Nhờ có đa nguyên- tam quyền phân lập, mà nhà nước của họ là những nhà nước trong sạch, minh bạch, vì dân... Phú quý sinh lễ nghĩa, họ cũng đang giúp nhiều nước đông lân... trên con đường phát triển.
-Bán đảo Đông Dương có 3 nước thì Cămpuchia, năm 2004 cũng đã tuyên bố xây dựng nhà nước dân chủ đa nguyên, dân quyền, với nền Quân chủ lập hiến, gần mô hình Nhật. Đó là một cuộc bứt phá đi lên hòa nhập với thế giới, dù mới chập chững, hy vọng có đầu sẽ có cuối, thực tuyệt vời! Vậy là Cămpuchia, đã có bộ y phục của một nước pháp quyền văn minh (?), đủ tư cách hoà nhập với thế giới bên ngoài? người dân đã trở thành người thật sự. Việt Nam ta chẳng lẽ không có bộ lễ phục nào ra hồn sao? chẳng lẽ cứ gục đầu mà đi sao. Ôi niềm tự hào con Rồng cháu Tiên, các dân tộc Việt biết đến bao giờ mới có! Lẽ dĩ nhiên ở Việt Nam không còn Hoàng gia, thì việc lựa chọn nền Cộng hòa lập hiến với thể chế Tam quyền- đa nguyên là con đường tất yếu.
-Cũng chính không Tự do- Đa nguyên- Nhân quyền với thể chế Tam quyền mà cực quyền CS phớt lờ “nghị viện- dân ý- quốc hội” âm mưu tự ký công hàm, thỏa ước, bán rẻ rừng biển Tổ Quốc Việt Nam và dân tộc Việt Nam cho cộng sản Tàu (..?) nhằm tạo ra Đại Đế chế Trung Hoa ở thời kỳ hiện đại đầu thế kỷ XXI(?). Chúng liều mạng quay ngược bánh xe lịch sử văn minh nhân loại, phản bội sự hy sinh xương máu và phong hóa Rồng Tiên suốt bốn năm ngàn năm của tổ tiên ta. Chúng còn đem các cuộc biểu tình tuần hành ở các nước dân quyền để dọa về an ninh, trật tự, sao chúng không so với cuộc chiến tranh cực quyền của kẻ bạo lực hơn ba mươi năm làm hàng chục triệu dân Việt phải chết, phải ly tán, ly hương, thù hận! rẽ dòng! Chúng cũng "cố tình xuyên tạc, không thèm biết rằng chỉ có Đa nguyên- Dân quyền- Tự do- mới hóa giải được tất cả thù hận bất công ấy!
-Hỡi những người Việt Nam chân chính! Hãy nhìn về tương lai mà tranh đấu, không thể để cực quyền cộng sản tuyên truyền lừa dối mãi, chúng đã làm be bét trang sử nước nhà, không thể nhìn ra thế giới bằng con mắt lẫn lộn mãi, hận thù mãi, thế kỷ hai mốt (XXI) dân Việt ta cần đi lên từ dân chủ, đa nguyên, dân quyền, tam quyền phân lập, mang lại sự thịnh vượng. Đó là văn minh nhân loại.
(Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới câu Sấm- Mẫu Liễu Hạnh giáng cơvẩy rồng tạm tách làm đôi, bóng câu in dấu muôn đời nhuốc nhơ” quả có vậy!- Sơn Trung Thư Trang)
-Hỡi các bậc cha mẹ, từng hi sinh xương máu vì độc lập, nhưng nào thấy tự do, hãy ủng hộ thế hệ con cháu, trẻ tuổi đầy nhiệt huyết đang đấu tranh đòi dân chủ dân quyền, hòa nhập với văn minh nhân loại đúng với sự tiến hóa... xứng đáng với chính khí Hồng Bàng.
-Nhân danh Tự do- Bình đẳng- Bác ái- Dân quyền- Đa nguyên, các dân tộc Việt Nam hãy đoàn kết ! Hồi chuông dân quyền đã vang vọng!
----------------------------------------------------------------------(PVH- 2008)
(*)-Nhân mệnh, sau này Thế kỷ thứ X, được Hy Dy Trần Đoàn- Người nghiên cứu lập nên khoa Tử Vi Bí số chính xác và khoa học ngày nay vẫn lưu truyền sử dụng.
(2)-Sấm Trạng còn có câu: “bốn bụt xuất thế đã chày, chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân”- chỉ ra rằng: chỉ có môi trường kinh tế tư bản mới cứu được dân chúng. Xem giải thích từ “vanaptr.Blog spot.com/”./.
TB: Cái đau xót nhất của thế hệ chúng ta, rất nhiều người đã “vào sinh ra tử” tranh đấu cho thắng lợi của Cộng sản, ngỡ chế độ cộng sản là chân chính, tài năng sẽ được phát huy cống hiến cho dân tộc, nhưng... ôi! Sao bây giờ vẫn mu mơ... Nào ngờ tính chất phản động CS đã bộc lộ ngay từ khi nó nắm quyền, chính là điều: bằng mọi quỷ kế, hơn cả các chính thể phản động thực dân trước đó...đã tìm cách thủ tiêu tất cả các đảng phái yêu nước trí tuệ chân thiện khác từng có công với tổ quốc đồng bào... để vỗ ngực xưng công, nắm toàn bộ quyền lực quốc gia!. Nhưng dù sao hãy dũng cảm từ bỏ nó để vất đi cái họa lớn đối với dân tộc, đồng bào con cháu ta -Thực tế là dũng khí từ bỏ quyền lợi ích gia phì kỷ của chính bản thân mình! Hỡi các vị, còn hơn cứ ngất ngưởng công thần để nỗi dân tộc ta chìm đắm mãi!..

***
-------------------------------------------------------(PVH)/

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

Mái đình- Cây đa- Bến nước...

***
Cảnh linh tự- “景靈寺
Chùa Cảnh Linh, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên- Hải Phòng.
---------------------------------(PVH)  
***

**
Chùa Câu Tử Nội- có tên chữ là “Cảnh Linh Tự-景靈寺” thuộc xã Hợp Thành- Thủy Nguyên- Hải Phòng. Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê vào khoảng thế kỷ XVII. Xây dựng lại đầu thế kỷ XX, và sửa chữa nhiều lần. Hiện “Cảnh Linh Tự” còn nhiều di vật: tượng Phật, câu đối, đại tự, bia đá... Do hạn hẹp kinh phí, lần sửa chữa gần nhất cách nay hàng chục năm, rui hoành chỉ làm bằng gỗ tạp đã mục mọt, xuống cấp rất nghiêm trọng. Dân làng đang vận động công đức để tu bổ phục dựng.
-Qua khảo sát chúng tôi thấy có thể giữ lại được một ít đồ nội thất, trùng tu các bảo vật, còn Chùa Chính quá mục nát, làm bằng gỗ lim như cũ thì rất tốn kém, chỉ có thể làm lại hoàn toàn với việc mô phỏng cách thức thay thế bằng vật liệu bê tông cốt thép, gạch, đá, mới bảm đảm sự bền vững… Chùa có thể làm theo hình thức nội công ngoại quốc, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Mẫu. Nhà Tổ và Vườn Tháp tu tạo giữ nguyên vị trí. Gắn liền không gian bên Đình- Đình Làng giữ nguyên, làm thêm nhà Giải vũ và nhà phụ, Cổng chùa và Tam quan đình dựng mới. Phía Sông Quai cho kè bến cập thuyền, xây Tháp sen và Đài Bồ tát trên mặt nước, để khoảng lưu không với bờ đê khoảng 8-10m.
-Cần quy hoạch lại toàn bộ, hướng không gian Đình và Chùa nên quay về phía sông quai như cũ, giữ nguyên định hướng phong thủy và tạo nên cảnh đẹp trời đất hài hòa của một vùng quê vốn có.
-Phương án Quy hoạch không gian cụm Đình Chùa Câu Tử Nội, xã Hợp Thành- huyện Thủy Nguyên- Thành Phố Hải Phòng.
----------------------------------(Xưởng Kiến Trúc Tạo Hình HP- 3/2014- KTS Phạm Vũ Hội).
***
Một số hình ảnh hiện trạng:


Mặt trước Cảnh linh tự.

 Nhà Mẫu tạm thời..  
Vết nứt bên phải chùa 




 Nhà thờ tổ.
 

Đình làng Câu Tử Nội, kề bên Cảnh Linh Tự


------------------------------------------(Xưởng Kiến Trúc Tạo Hình HP- 3/2014- KTS Phạm Vũ Hội).


Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình- Lý Học- Càn Khôn- Chiêm Thời-“知驗讖記狀程-理學乾坤-占時“... ***

Minh họa Sấm Ký Trạng Trình của KTS Phạm Vũ Hội:
-----------------------------------------
(Nhân 60 năm Điện Biên Phủ)
Sấm Trạng Trình Nguyên văn:
 “1/rồng bay năm vẻ sáng ngời
rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
2/ngựa hồng quỷ mới nhăn răng
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời
3/Chin con rồng lộn khắp nơi
nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu...
*


Câu Một (1)/: câu này đề cập đến con "rồng bay"; mà rồng là khái niệm ở thời "cận- hiện đại" vốn “thiên hạ” luôn gán ghép như sự biểu tượng của các chế độ phong kiến; đặc biệt, tầng lớp tri thức “cấp tiến cộng sản” rất nhạy cảm với "con rống- phong kiến" cho nên các sử gia phe cộng sản thường gán cho các triều đình phong kiến là những con rồng, con rắn áp bức dân nghèo, là đối tượng bị lên án và tiêu diệt. Dân nghèo lao động cùng với phong trào cộng sản đã đập nát cả "rồng bay phượng múa" nơi chùa chiền đền miếu trong chiến dịch cải cách ruộng đất và xây dựng con người mới, nền văn hóa mới “XHCN”. Bốn chữ "năm vẻ sáng ngời" lại cho là sự loè loẹt của văn hóa quan lại triều đình phong kiến, rằng ấy là sự hào nhoáng bên ngoài của xã hội phong kiến mà thôi! Và "mọi triều đại phong kiến luôn đồng nghĩa với đêm dài vô tận" chả có tí gì ưu việt cả!. Với cách hiểu như thế nên nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhân sĩ cực đoan, trong văn học, các học sinh sinh viên rất lãng mạn cách mạng CS luôn vô cảm với rồng phượng son vàng điện ngọc, đã kịch liệt lên án hình tượng con rồng; do đó họ không thể hiểu biết Sấm Trạng tiên tri về ai, về cái gì, hay về việc gì?
-Tiếp đến "rắn qua sử soạn hết thời sa tăng" thì rắn là năm nào? sa tăng là ai? chỉ có thể là bọn thực dân phong kiến ấy thôi..?.
-Nhưng đọc toàn câu thì thấy có vẻ nói đến "sa tăng" quỷ dữ, hình như là gán cho thực dân Pháp chăng? thế thì ai là rồng? chả nhẽ lại ám thị cộng sản là con rồng? còn “phong kiến” thì sao lại có "năm vẻ" ngũ sắc, sáng ngời, mà ý tứ theo đó để làm nguyên nhân cho “rắn qua sửa soạn hết thời sa tăng” tức hết đời quỷ dữ được? khó hiểu thật! Cách gieo vần khi ta đọc đi đọc lại, thì cảm giác cũng rất trống trơ, như những viên cuội ném ra giữa sân gạch nắng hanh khô khốc, không gieo được thiện cảm! cái tượng nó thế... hư!. Nhưng cứ gẫm cho kỹ...
-Hóa ra... phải hiểu được 2 câu dưới mới vỡ ý câu này... Cụ thể:
-Câu Hai (2). & Câu Ba (3)/. Hai câu Sấm này có ý nhắc ai đó là đừng có “dại” kẻo bị mắc mưu- dính phải mạng nhện màu hồng, có vẻ như là “lưới gạch cộng sản!”. Muốn hiểu điều này cho cặn kẽ? vâng xin dài dòng một tý…
-Xưa nay các bậc cao niên đọc 3 câu Sấm trên chẳng hiểu Trạng nói về việc gì? sao lại “ngựa hồng” quỷ mới nhăn răng, cha con dòng họ thầy tăng hết thời?” câu dưới lại viết “chín con rồng lộn khắp nơi? nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu?
(xem bài "những con số trong Sấm Trạng Trình"- đã được tôi giải thích bằng tranh minh họa và Bảng thống kê cùng những lời ghi chú- ở các bài trước!-vanaptr.blogspot.com/).
-Có những cách hiểu khác nhau:
Cách hiểu 1/- Nhiều trường hợp suy ngẫm về bốn câu trên, thì người ta đoán nhì nhằng~ rằng: ấy thời Cộng Sản với quan điểm vô thần, chống “mê tín” dị đoan, cấm cúng bái, tế lễ, chập chập cheng cheng... là sau cách mạng Tháng 8, khi CS đập phá đình chùa... khiến bọn “thầy tăng- tức tăng ni, sư sãi...” bị khinh rẻ, bị cấm tu hành, bị bắt hoàn tục, đi quân ngũ... tước đoạt ruộng công ích, nhà chùa, đền miếu… tận mãi tới những năm 2000 mới cho tu hành trong giới hạn của chế luật và "phục hồi chùa chiền"; rồi dần dà đến bây giờ... các "thầy tăng" giả~ thật... lẫn lộn... tôn giáo phục hưng trong sự kiểm soát gắt gao, ấy thì các bậc tiền bối bấy giờ, tôi nói bấy giờ tức những năm "1950 tới khoảng năm 2000"... cho rằng:.. thời ấy đúng là "cha con dòng họ thầy tăng hết thời"! là bọn "thầy tu" bị cấm, hết đường tu, tương tự, kể cả bên Thiên Chúa giáo, các trường dòng bị cấm bị coi là trường phản động- tức hết thời.. ấy vậy!. Thế còn Ngựa hồng là gì? Thì người ta ang áng có phải Đảng Cộng sản không? CS chuộng màu cách mạng- màu đỏ. Cái gì CS cũng đo đỏ... đỏ rực!.
Cách hiểu 2/- Lại cũng bấy giờ, có người cam đoan- đoán: "ngựa hồng" là cộng sản đích thị; ra đời với tất cả cờ quạt phông màn băng biểu đều dùng sắc màu đỏ như "cờ đảng: búa liềm- màu đỏ"; "chính thể quốc gia: cờ đỏ sao vàng", cho nên gọi là "hồng"; các cuộc xuống đường tuần hành thì cả một rừng cờ đỏ; còn "thầy tăng" nói “lái” ra là "thằng tây"- tức thằng Pháp chứ không phải là bọn thày tu, sư sãi? có nghĩa là có cộng sản ra đời, thì "mới" thắng giặc Pháp, Thầy tăng-> thằng tây- thằng Pháp "mới" hết thời!.
- Thực ra cách hiểu (1/-) chỉ đi từ thực tế rồi bàn luận để hiểu Sấm, xin thưa ấy là hiểu theo cảm tính... nói vui thì là cứ “am ám cái chị hàng chổi!” thế... thế!.
*

-Cách hiểu (2/-) cũng là cảm tính, tuy có vẻ như gần đúng với thực tế lịch sử; bởi trong cuộc đua tranh quyền lực chính trị người ta có thể ví các bên... như những con ngựa? tuy nhiên bản chất thì vẫn sai, bởi cũng không hề có “sở cứ” thật sự, “thầy tăng” Việt ngôn nói lái ra là “thằng tây- tức thằng Pháp” (vì ta đang kháng chiến chống thằng Tây- thằng Pháp) thì đúng quá còn gì?. Nhưng để hiểu chính xác hơn nữa, chưa đâu! Cần có dịch dẫn, vậy xin hãy hiểu cụ thể như sau:
-Trước hết, phải theo phép địa chi- ngũ hành; tại sao nói là “ngựa hồng?”. Trả lời: là vì Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập ngày 3/2/1930 là năm Canh Ngọ; thắng trận Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 là năm Giáp Ngọ, Địa chi: đều là “Ngọ”- tức Con Ngựa. Lại biết năm Ngọ- Địa Chi là con nhà Xích Đế thuộc Hỏa sắc của Ngọ thuộc Ly- Lửa- ở phương Nam, sắc màu lửa đỏ, cờ quạt phông màn cũng màu đỏ, tất cả là sở cứ lập danh, cho nên mới nói là “Ngựa Hồng”;
-Thứ đến cách hiểu: ...biết rằng Sấm viết: “Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng, cha con dòng họ thầy tăng hết thời” thì ai cũng (...xin tạm gọi là.. hiểu xuôi.) “hiểu xuôi” tức- theo cách hiểu rằng: “ngựa hồng” xuất hiện thì con “quỷ- thầy tăng- thằng tây” mới chết nhăn răng, mới hết thời?. Theo cách này.. thì: “ngựa hồng” là chủ ngữ- “quỷ mới” làm nhiệm vụ vị ngữ, còn “nhe răng” làm nhiệm vụ trạng ngữ, mô tả rõ trạng thái con quỷ đang làm gì, đang như thế nào? ở đây là “quỷ” đang “bị chết” với trạng thái “nhăn răng- nhe răng”!... Như vậy câu sau “cha con dòng họ thầy tăng hết thời” trở thành “mệnh đề định ngữ” bổ nghĩa cho vai trò tân ngữ- tức “quỷ- tây- cha con thằng tây, lũ chúng, nhe răng- hết thời!”. Nhận xét: Hiểu như vậy cũng được. Nói là cũng được- là vì còn có một cách hiểu khác! Tại sao?
-Trả lời: Vâng! Trạng đã có câu chỉ dạy (là chiếc chìa khóa để hiểu Sấm mà 500 năm nay, người ta đã chỉ đọc chơi, rồi vất một xó, không ai biết mà sử dụng, chỉ bây giờ tôi mới đem ra áp dụng như một chuẩn mực..) Sấm nguyên văn:
xem đây chữ một nghĩa mười
hiểu xuôi cũng được, ngược thời mới nên!
-Cho nên, mới nói hiểu thế ấy là hiểu xuôi, gọi là “cũng được” nhưng chưa “nên” chưa đúng một cách chính xác!
-Lại hỏi, vậy hiểu thế nào cho “mới nên”, cho chính xác? Xin thưa có cách hiểu đúng mà "ngược" như sau: “ngựa hồng” là chủ ngữ; “quỷ mới” là định ngữ bổ nghĩa cho chủ ngữ; “nhe răng” là vị ngữ; có nghĩa là “con ngựa hồng chính là: con quỷ mới- và con quỷ mới này nhe răng, khiến cho con “quỷ cũ” là thằng tây hết thời… Ta hiểu ra Trạng đã viết ẩn đi không viết ra cụm từ “con quỷ cũ” mà đòi hỏi ta tự hiểu ra điều đó! và như vậy cách mạng cộng sản chính là "con quỷ mới"- nói ra như thế là "phạm" rồi! nhưng trong phương pháp so sánh hiện thực lịch sử thấy đúng quá! hà!? Vậy cái sự hiểu ngược lại, "là ngược thời mới là nên" là: ngựa hồng mới chính là quỷ, nó là quỷ mới! Con quỷ mới chính là “cộng sản” mà ai cũng nhầm tưởng như đấng cứu thế! Đến đây ta kết luận ý chính xác của Sấm Trạng là: ngựa hồng là con quỷ mới; con quỷ mới nhe răng, khiến con quỷ cũ là bọn "thầy tăng, thằng tây- thằng Pháp": hết thời!. (mà xưa nay chẳng ai hiểu như thế cả!).
-Vậy “ngược thời mới nên!” là như thế đấy!
*

-Bây giờ giải thích câu thứ hai “chín con rồng” là những con nào?. Xin thưa: Ai cũng biết trước Cách Mạng tháng 8/1945, sau khi Đại chiến Thế Giới II kết thúc, có “10” nước được gọi là Hệ thống các nước XHCN gồm:
1/ Liên Xô (1917); 2/ Ba lan (15-9-1944); 3/ Tiệp khắc (9-5-1945); 4/ Bun gari (3-10-1944);
5/ Hung gari (1944); 6/ Ru mani (1944); 7/ Mônh Cổ (11-1924);
8/ Nam tư (29-11-1945); 9/ Anbani (1944); 10/ CHDC Đức (1949).
(xem bảng "những con số trong Sấm Trạng Trình"
đã posted ngày... tháng... năm)
-Nhưng thực chất chỉ có chín nước là hoàn chỉnh, còn CHDC Đức chỉ có ½ lãnh địa- Cần phải biết phép dịch cũng như đời thường, một nửa, không được tính như là 1 “con rồng”.
-Nếu lần lượt kể đến: 11/ Việt Nam DCCH thành lập 2-9-1945;
12/ CHND Trung Hoa thành lập 1-10-1949;
13/ CHDCND Triều Tiên thành lập 27-7-1953;
14/ CH XHCN Cuba thành lập 1959,
thì có tới mười bốn (14) nước XHCN.
-Tuy nhiên ít ai biết rằng Quốc tế CS do Liên Xô đứng đầu- năm 1950: khai trừ Nam Tư thì: kết nạp Trung Hoa; 1961 khi khai trừ Anbani thì: kết nạp Cuba... Vậy thời kỳ 1945-1961 thực chất có 12 nước XHCN.
-Số tuy “12” (mười hai) nhưng vẫn theo khí dịch thiên vận, thì “các nước hình thành từ một nửa quốc gia” không thể gọi là một nước được, theo đó Đức, Triều Tiên, Việt Nam không được tính, đây là then chốt để định hình một quốc gia hoàn chỉnh. Và do vậy theo cách gọi “con Rồng” thì suốt chặng đường Việt Nam đến trước lúc thống nhất 1975, chỉ có “chín con rồng” mà thôi!. Ta nhớ đến câu ngạn ngữ Việt “Không ai đẽo cày giữa đường” quả đúng vậy!. Xin có thơ rằng:
Thế là những nước xẻ đôi
Sấm truyền không tính, người đời khó suy!
Chính lý do đó mà các bậc tiền nhân không thể biết tại sao, từ đâu dẫn đến số liệu Sấm Trạng lại viết: “chín con rồng lộn khắp nơi!”. Chúng ta hiểu ra “Dịch Khí Thiên Vận”, cũng rất “căn bản” như cách người đời tính toán so sánh vậy, không ai đẽo cày giữa đường vậy!.(đã giải thích ở Bảng thống kê những con số trong Sấm Trạng Trình- 2001-2002)
-Ta nhận ra rằng Phong trào Cộng Sản và Công nhân Quốc tế phát triển, từ trước tới 1975 luôn luôn chỉ có “chín con rồng”, và "dại thời mắc mưu" thì người dại là nhân dân Việt Nam đã mắc mưu, kể cả Trung Hoa cùng bị dính vào lưới gạch cộng sản (vì trước lúc Hoa Lục thành CS thì cũng có 9 con rồng lộn), do bầy "nhện CS" giăng ra!... Con đường CS chủ trương duy ý chí xây dựng một xã hội siêu hình, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, bế quan tỏa cảng tự cấp tự túc, của cải tuôn ra như nước, nhà nước tiêu vong... cào bằng mọt thang bậc xã hội… kết quả tan rã sụp đổ vào 1989, phải quay lại với mạch lý xã hội “sinh thái tự nhiên kinh tế tư bản thị trường”…  
-Than ôi, ai có thể hiểu rõ ràng như vậy đây?! “Dại” rồi phải không ạ!, chữ “dại” trong Sấm thật sự đã phải trả bằng bao nhiêu xương máu của cả nhân loại. Xin có thơ rằng:
Bởi đâu chìm nổi ba đào
Để rồi đổi mới kêu gào rằng khôn
Bởi đâu cấm chợ cản đường
Để rồi đổi mới đa phương mặc lòng
Bởi đâu nghèo đói mông lung
Để rồi đổi mới xin ông làm giàu
Thị trường hai chữ cung cầu
Lại cùng tư bản- gật đầu bắt tay!?
...Ô hô...!?
                   -Con mừng búng tít con quay!(*sấm)
-Đến đây, ta có thể hét lên “cả thế giới đều dại chứ đâu chỉ có nước ta!- Một thiên hạ dại riêng mình ta đâu?”. Nhưng để an ủi Trạng cũng có câu:
trời làm vật đổi sao rời...
Nhân gian ai dễ biết ai lạc lầm!
-Lời bàn: Quả thật không dễ nhận ra sự dại, sự lạc lầm, khi mà tận đến bây giờ… các đảng cực quyền vẫn hò hét đường lối sáng suốt- đúng đắn- lãnh tụ thiên tài… và vẫn một mực định hướng phát triển XHCN- đường lối Mác xít- kim chỉ nam! Họ không nhận ra mâu thuẫn thời đại: giữa trào lưu dân chủ dân quyền và chủ nghĩa cực quyền; giữa lợi ích tri thức dân tộc trong thể chế tam quyền phân lập với chính thể bạo lực duy ý; giữa kinh tế thị trường và sự lũng đoạn luật pháp quốc gia mang tính toàn trị; giữa an ninh xã hội và nền hành chính cuồng trị tô hô trống rỗng; giữa tài năng, năng lực con người và sự tha hóa nhân cách có hệ thống tham nhũng tàng ẩn trong thể chế cực đoan!... tất cả: đang làm cho xã hội ta tiếp tục đi sâu và ngõ cụt, quốc gia ì ạch, văn minh bị đẩy lùi.
-Nhưng dù có sự biến tướng, biến cách, biến lắt, biến léo, xảo ngôn lệnh sắc… thì lịch sử sẽ tự phán xét ngay sau đó. Sấm Trạng “quần gian đạo danh tự, bách tính khổ tai ương- 群奸盗名字.百姓苦災殃”- chỉ làm cho thiên hạ- trăm họ khốn nạn, khốn khổ mà thôi!
-Kết cục: Lại một lời than tai ách nữa tiếp tục chăng...?.
Trở lại Câu Một 1/. (Đã giải thích ở các khổ Sấm liên quan). "Rồng bay năm vẻ sáng ngời" chính là "Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" được thành lập sau cuộc cách mạng Tháng 8 năm1945; năm vẻ đó là: 1/Dân chủ; 2/Cộng hòa; 3/Độc lập; 4/Tự do; 5/Hạnh phúc. Năm vẻ nêu ra đã có sức mê hoặc tất cả dân tộc Việt Nam, những con người cách mạng lãng mạn, phấn đấu cho một nước VN mới thời ấy- khác hẳn với "tam lương tự - 三良字: dân sinh, dân chủ, dân quyền" của Quốc Dân đảng VN... "Rắn qua sửa sọan hết thời sa tăng" là sang năm con Rắn- 1953- Quý Tỵ, là lúc Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp đang bị Cộng Sản Việt Nam bao vây, và sửa soạn chiến dịch công phá. Kết quả là Pháp đã thất bại, đầu hàng ngày 7/5/1954, buộc phải ký Hiệp Nghị Giơ-ne-vơ. "hết đời Sa tăng" quả đúng y mực hệt lời tiên tri của Đức Trạng!.(xem minh họa)
--------------------------------(500 năm nghiệm đúng quanh ta- Tri nghiệm- Chiêm thời- Khảo cứu- KTS Phạm Vũ Hội. Rõ ràng Sấm Trạng Trình chính xác hơn cả nghề thiết kế kiến trúc x.d của tôi!)
-----------------------------------------------------------------------

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Mái đình- Cây đa- Bến nước…

Phối cảnh không gian- Quy hoạch lại Chùa Quan Khái thuộc xã Vĩnh Phong- huyện Vĩnh Bảo- Thành phố Hải Phòng và Một số hình ảnh hiện trạng…

-------------(Xưởng Kiến trúc Tạo Hình Hải Phòng- KTS Phạm Vũ Hội)
***






***
Phương Án: Quay lại hướng Cổng chùa theo Bức tượng Phật nhìn về phía sông cách bờ đê khoảng 1,5 km; quy tập lại vườn Tháp, Cổng chùa kiêm Tháp chuông xây trên Hồ Ngọc Thuỷ; Giếng Ngọc vẫn giữ nguyên; Bên trái là khu thư xá- nhà tiểu; bên phải là nhà hành lễ, Phật vụ.. Giữ nguyên dòng nước chảy, làm thêm cầu và sẽ có đường từ cổng chùa đi thẳng ra Sông Văn Úc; xây lại khuôn viên trồng lại cây xanh, Chùa Chính kiêm giảng đường Phật pháp. Trong chùa Có các ban thờ Phật, thờ Mẫu, Đức Ông, Thánh Hiền.
-----------------------------------------------(XKTTH- HP)

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình- Lý Học- Càn Khôn- Chiêm Thời-“知驗讖記狀程-理學乾坤-占時“... ***

Minh họa Sấm Ký Trạng Trình của KTS Phạm Vũ Hội:

(và đây là minh họa)
Sấm Trạng Trình Nguyên văn:

西 -"thủy khứ thanh thanh quy tây vực.
- Nhị hỏa xưng vương diệc hữu thần.
- Dê huy nhị vĩ hy mã đáo.
- Hoàng thành khô trọc thảo cùng thi.
- "Đông A" nhập xuất, khôn cung thịnh.
- Tý khởi hầu minh sự bất thành.
- hổ khiếu chỉ kinh thiên hạ nội.
- thỏ lai nhất mộc dịch tường trình."
***
***
Giải thích:
-Câu 1/: “ 西 - "thủy khứ thanh thanh quy tây vực”: Hai chữ “thủy “”+ chữ khứ “” Thành = chữ Pháp“”. câu này tiên tri rằng: Pháp sẽ từ từ rút về Tây.
-Cụ thể: sau khi thất trận Điện Biên: 7/5/1954 buộc phải kí Hiệp Nghị Giơ-ne-vơ; tháng 10/ 1954 Pháp rút khỏi Hà nội về Hải Phòng; 13/5/ 1955- rút khỏi Bến Nghiêng- Đồ Sơn Hải Phòng; 22/5/ 1955 rút khỏi Cát Bà; 26/4/ 1956 triệt thoái hết quân khỏi Sài Gòn và Đông Dương.
-Câu 2/: - Nhị hỏa xưng vương diệc hữu thần”: tức bằng 2 Chữ hỏa ""+ chữ vương "" ghép thành = chữ Diệm "". Tiên tri rằng: Ông Diệm có lúc xưng vương. (tức Tổng Thống).
-Cụ thể: Thông qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 26/10/ 1955- Bầu ra quốc hội lập hiến 3/1956- và với việc ban hành Hiến Pháp chế độ Cộng hòa 26/10/ 1956, Ông Ngô Đình Diệm thực sự trở thành vị Tổng Thống của nền Cộng Hòa Đệ Nhất tại Nam- Việt Nam (theo Lâm Lễ Trinh).
-Câu 3/: " - Dê huy nhị vĩ hy mã đáo!": Hình tượng chữ dê- dương "" có thêm đuôi thành chữ Mỹ "". Sấm tiên tri rằng: Năm 1955- Năm Ất Mùi (con dê), Mỹ đén Sài Gòn trực tiếp can thiệp vào Nam Việt Nam; khi Pháp chuẩn bị rút khỏi Việt Nam và triệt thoái khỏi Đông Dương thì Mỹ đã được Pháp trao lại vai trò giúp đỡ củng cố Chính quyền Miền Nam Việt Nam, mục tiêu ngăn cản "bóng ma cộng sản".
-Câu 4/: " - Hoàng thành khô trọc thảo cùng thi!": Theo đó khi Chính quyền Hồ Chí Minh- Bắc Việt Cộng Sản từ 1945 đã lấy Hà Nội làm Thủ Đô; Chính quyền Bảo Đại- 1950 lấy Sài Gòn làm Thủ Đô, Sài Gòn vẫn là thủ đô, khi Tổng Thống Diệm kế tiếp... thì Cố Đô Huế như bị bỏ hoang ít được nhắc đến. Vậy là từ 1945 Kinh thành Huế, chỉ được xem là Cố Đô xơ xác.
***
***
-Câu 5/: " - "Đông A nhập xuất, khôn cung thịnh": -Câu này ý mô tả... trước hết... nhiều vấn đề chính sự ở phương Đông địa cầu (1947-1967) mang tính toàn cục, rất phức tạp, ảnh hưởng lớn- trực tiếp tới Tàu, Việt Nam, Đông Nam Á, bởi sự "xuất- nhập"- (tức chống lại hoặc là bài xích cộng sản) của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, làm chao đảo các khuynh hướng phát triển "môi trường kinh tế sinh thái tư bản tự nhiên xã hội và dân tộc" của các nước khu vực. Bấy giờ, ta đã chứng kiến nhiều cuộc đảo chính tại In- đô- nê xia (1965), Hàn Quốc (1961, 1979), Thái Lan (Chú giải: 2 chữ "đông a" là "thuật ngữ quái dịch" chỉ phương đông theo ý nghĩa dịch học, chứ không phải như cách hiểu của các "cao sĩ tiền nhân" đơn thuần chỉ là "triết tự" của chữ "trần"; "khôn cung" là ám khí cũng là âm vị chỉ các biến động ngầm, tối, cực đoan... "khôn cung thịnh" là cái sự ngầm, tối, cực đoan được mở cơ... vận khí xấu được thịnh hành, cũng là khí dịch Cộng Sản, mà cuộc tàn mới xác định, mới lộ rõ bản thể; còn "xuất- nhập" là xuất nhập âm khí Cộng sản đang thịnh;  Thí dụ: Triều tiên, Việt Nam: miền Bắc "đón nhập" cộng sản, miền nam "bài xuất" cộng sản; Tàu: "nhập lục địa cộng sản, xuất tư bản ra Đài loan; In đô nê xi a: đảo chính Su hác tô (1965) đối với Xu- các- nô là "xuất" công sản, "nhập" tư bản... Các cao sĩ trước nay chưa bao giờ hiểu được điều này khi đọc lời Sấm trên của Trạng mà chỉ gán ghép "ở trong nước" cho âm vị đàn bà, mà cụ thể là gán cho Bà Lệ Xuân họ Trần, nhưng cái chính còn là ở chỗ họ không hiểu được “Dịch Học Căn Bản- quái dịch nghi cơ” ).
-Sau đó... là ảnh hưởng cụ thể vào Việt Nam... tại Miền Nam, phía sau của ông Diệm, nhiều ý bàn cãi gây ra lắm chuyện rối ren... "khôn cung" chỉ các việc ở hậu trường, "khôn" là quẻ khôn () trong bát quái, tính quẻ là tiểu khí, hủ lậu, hắc ám, mưu ma chước quỷ, lấn át, bày đặt, cũng nói luôn cả sự thay đổi trong sự giật giây, rình rập can thiệp “xuất nhập-- ra vào” của quan chức chính quyền Mỹ, từ Đại sứ Ca- bot- lôt tới Tay- lor, chất chứa đầy âm mưu... (Có người cho rằng ghép hai chữ: đông "" + a. "" = ra chữ trần "" và gán cho Trần Lệ Xuân, quả thực là sai. Rõ ràng hai chữ phụ: "" + đông "" mới = là chữ trần ""). Chiêm nghiệm thấy rõ các cộng sự của ông Diệm và Mỹ đã có nhiều âm mưu đối lập ở hậu trường, sau đó là áp lực cộng sản, đi đến đảo chính sau lưng ông từ 11/1960 tới 1/1963 và liên tiếp...
-Câu 6/: " - Tý khởi hầu minh sự bất thành"; tức 23/9 Canh Tý (11/11/1960- DL) xảy ra cuộc đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi, nhưng đảo chính là sự cảnh tỉnh cho chính quyền Ông Diệm.
-Câu 7/: “ - hổ khiếu chỉ kinh thiên hạ nội.
Hổ khiếu” là tiếng “gầm” nổ giữa Sài gòn năm Hổ, là tiếng gầm ám chỉ sự kiện năm Nhâm Dần; “chỉ kinh thiên hạ nội”- gầm lên là làm thiên hạ kinh sợ bởi sự việc xảy ra trong thành nội; ở đây sự việc cụ thể là ngày 27/2/1962 tức 23/1 Nhâm Dần, Dinh Tổng Thống Diệm bị đánh bom, do phản đối những biểu hiện về tính độc tài và gia đình trị của Ông Diệm.
-Câu 8/: “ - thỏ lai nhất mộc dịch tường trình." Thỏ “lai”… tức là Năm Mão “tới”; ở đây viết “ẩn tân ngữ”. Thì...: năm 1962 Dần, 1963 Mão- 1964 Thìn... là năm của các cuộc đảo chính liên tiếp bằng sự bắt đầu ném bom Dinh Tổng Thống… tiếp đến là đảo chính của Dương Văn Minh 1/11/1963, lật đổ và hạ sát hai anh em Ông Diệm, Ông Nhu (nhưng không rõ “ai” chủ mưu), thành lập ra Hội Đồng quân nhân quốc gia và giữ chức Quốc trưởng... hai tháng sau Nguyễn Khánh đảo chính ông Minh và kiêm tất các chức vụ tối cao; lại bị đảo chính tiếp 1964; các quốc trưởng tiếp theo là Phan Khắc Sửu… Cuối cùng Nguyễn Văn Thiệu được bầu  làm Tổng thống từ 1967 và thành lập Đệ nhị Cộng hòa; đối với Dương Văn Minh từ 1964 làm đại sứ tại Thái lan và 1971 trở lại Sài gòn…
-Câu Sấm này dùng phép triết tự: 3 chữ “Nhất “” + mộc “” + dị “”= ghép thành chữ Dương “”- tức ám chỉ Dương Văm Minh; tường trình: tức lộ diện! (bởi Dương: kẻ chủ mưu mà bấy lâu từ 1963.. không ai hiểu rõ). Tại sao? Để hiểu rõ lời Sấm thì ta phải hiểu nghĩa của cái cách nói hai chữ “thỏ lai”. Thí dụ: Ta hẹn bạn đi chơi hay tiệc tùng, thường nói: Hôm nay thứ hai, mai tứ ba, ngày kia thứ tư… thứ tư “tới” mở tiệc, gặp nhau nhé! Tương tự… Áp dụng: Năm nay, năm Dần (1962) bị bom, sang năm, năm Mão (1963) bị đảo chính... năm Mão (1975) “tới” thì “nghị” sẽ “tường trình” đấy! (tức.. hiện rõ chân tướng)!. Vậy là khi ta hiểu các sự kiện lịch sử và ngẫm kỹ từ ngữ của Sấm Trạng sẽ hiểu rõ họ Dương=nhất+ mộc+ dị” nhất định lộ rõ bản tướng vào năm “thỏ lai”! tức 1975- (nên biết phép địa chi người Việt gọi là năm Mão- thì người Tàu gọi là năm Thỏ, mới viết “thỏ lai”- cách viết Trạng hay dùng, buộc ta phải thông luận mới hiểu!). kết luận: bản tướng tường trình là gì? ấy là “kẻ chủ mưu hạ sát hai anh em Tổng Thống Diệm, Nhu- và cũng là “kẻ” làm một Tổng Thống với vai trò đầu hàng vô điều liện” vào 30/4/ 1975. Ngoài ra còn cả hàm ý "con quay ngã đài..." ./.
----------------------------------------------Đã giải thích ở bài “Nhân "30/4" 2012!” (ngày tháng năm 2012) và "đây là minh họa"- 500 năm nghiệm đúng quanh ta- Tri nghiệm- Chiêm thời- Khảo cứu- của KTS Phạm Vũ Hội ./.
----------------------------------------------------------------------(PVH)
***