Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình- Lý Học- Càn Khôn- Chiêm Thời- “知驗讖記狀程-理學乾坤-占時“... ***


***

Tưởng nhớ Ông Lý Quang Diệu
từ trần 23/3/2015
(nhắc lại bài Sấm Trạng về Xứ Hoa Đôi)
Lời Sấm Trạng Trình về Singgapor
--------------------------------------------------KTS  Phạm Vũ Hội.
 ***
Nguyên vănViệt ngữ- Nôm:
“Ba ra ấp lại chầu sang
Đồ sơn làm án voi đồng phục sau
tả bạch truật hữu giang đầu
hoa đôi xứ ấy có chàng lý công
thành trì vẽ khắp tứ tung
thông truyền trúc mọc hóa vồng xum xuê
ghập gềnh song vỗ ba đào
trúc mai xứ ấy ra vào cõi tiên”.
***
-Người Hải Phòng luôn tự hào về Cụ Trang Trình, Cụ để lại nhiều lời Tiên tri rất chính xác, có nhiều lời Sấm vẫn giữ nguyên sự bí mật. Giải mã Sấm Ký của Trạng luôn là điều thú vị.  Đây là khổ Sấm “rất lạ”, từ ngữ theo Việt ngữ- thuần nôm, các danh nho xưa nay chép tay, lưu cho nhau bằng "quốc ngữ la tinh” cũng có khi tam sao thất bản... nhiều người đọc không hiểu, Sấm nói điều gì, cuộc chưa tàn thì chưa hiểu là đương nhiên! Vâng! Nhưng ở khổ Sấm này thì thế nào? Ám thị sao?. Nhớ tới tháng 4/ 2000, khi tôi làm Quy Hoạch lần đầu khu tưởng niệm Đức Trạng Trình, Cụ Chính bấy giờ đã hơn 70 tuổi, nay đã quá cố (ở làng Trung Am) cho tôi chép lại bản viết tay về nghiên cứu... vỡ nhẽ đây là khổ Sấm viết liên quan đến phong thủy và danh nhân...
-Xin tiết lộ!... (nhưng đã bày cả ra rồi còn gì? Như các cụ xưa vẫn từng nói, là mình chưa hiểu ra đấy thôi! chứ Sấm thì không thể sai được!): Vâng, xin tiết lộ: các địa danh “ba ra, đồ sơn, bạch truật, voi đồng..!" trong bài Sấm, vốn liên quan đến địa lý- phong thủy toàn vùng Đông Nam Á. Theo Thái Ất Thần Kinh- mà Đức Trạng giảng- giải nghĩa thì “thuật bốc âm” được Ngài tính toán ra... sau đó... còn có sự biến âm thuần Việt! Và được “An nam hóa”- ta hay đùa là "Anamits hóa" tức là khóa chặt cho tối sầm lại, là cái cách  ta quen gọi "lối nói nôm- nôm hóa!?”. Tất nhiên như thế là một sự đánh đố khó hiểu...
-Nhưng biết làm thế nào? Trạng vốn đã dạy: "thiên cơ tuy bất tiết, bất tức đắc ngôn nhiên!- 天幾雖不絏. 不息得言然(*)!"- vâng! chỉ là bất tiết lộ theo cách nói thông thường! Ấy thế! Đại loại thuật biến âm đã được dụng trong Sấm khá nhiều. Thí dụ: trong câu Sấm nguyên văn: “giữa năm hai bảy mười ba, lửa đâu bỗng cháy tám gà trên mây!” -Ấy là nói về tai nạn máy bay chở Toàn quyền Đông Dương Pierie Passquier bị bốc cháy 1933 khi về Pháp- chữ “Passquier- chuyển ra Nho học-> bát kê- chuyển ra Việt ngôn-> tám gà!”; (theo Sấm Ký Trạng Trình- nhà XBVN- Sài- gòn 1994- Phạm Đan Quế- biên soạn) hay câu: “mai gầm rắn ấy mới ra”-Thì hai từ Mark-Enghel, chuyển âm-> Mạcgen-ơm- chuyển Việt ngữ- nôm- "anamits" thành ra-> mai- gầm-> ướm vào năm 1917 cách mạng Nga thành công là năm Đinh Tỵ- địa chi con rắn! (khảo cứu của- KTS Phạm Vũ Hội). Khổ Sấm trên sử dụng cách biến âm tương tự:
-Giải từ: Lời Sấm chủ yếu là Việt ngôn- thuần nôm- rất dân dã, mộc mạc...
Câu 1/ "ba ra ấp lại chầu sang"- Vậy “ba ra” là gì? Xin thưa: là ám chỉ vùng biển ngoài khơi phía đông Nam bộ, khu vực Sarawak- ngoài khơi gần với Brunei chính là quần đảo Barasen quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam... “ấp lại” là ý nói Biển Đông rộng như một vòng tay hình cánh cung ôm về Việt Nam mà VN thì ưỡn bụng ra nhận lấy (khu vực Bình Định Khánh Hòa Phan Thiết- ưỡn ra đấy!)...  “chầu sang” với tiếng Việt ý nghĩa là chầu vào- châu vào! Mà ở đây!- "chầu sang là trông sang "bên kia, phía đối diện: Điểm- "X*"! (sẽ gỉai thích...).. mang tính tương ứng, tương đối theo hướng trục đường kinh tuyến bắc nam.
-Câu 2/ "đồ sơn làm án voi đồng phục sau": Thế nào là "đồ sơn làm án"- xin thưa: "án" là nơi ta nhìn..! điểm đứng, vị trí mà đứng để trông xuống phía nam. Vậy Đồ Sơn là là điểm quan sát...(ta hình dung Đức Trạng đã có lúc đứng tại Đồ Sơn mà nhìn, có thể là tại Tháp Tường Long, Núi Ngọc!.. thú vị đấy?) "Voi đồng phục sau" là gì? ấy là tên địa danh một nơi phía bắc thuộc phần đất của Trung Quốc tên là vùng "hoa đông- quảng đông" biến âm thành -> "voi đồng" do thế đứng tại Đồ Sơn quay xuống phía nam, thì vùng "hoa đông- quảng đông" ở sau- nên gọi là "phục sau"...
-Câu 3/ "tả bạch truật, hữu giang đầu" (có bản chép là tả làng truật (-sai!). Thực ra là Fa luật, bạch truật, Ba truật!..."). Vậy tiếp theo "tả bạch truât" là gì? Xin thưa "tả" là trái- bên trái... "bạch truật" là biến âm từ "phi luật" tức Phi luật tân, vâng Phi luật tân biến âm theo Việt nôm-> là "bạch truật", nằm bên “trái”; bản đồ trước vẫn gọi là Gia- luật- tân. Tiếp... "hữu giang đầu" là gì? Xin thưa: "hữu" là phải- bên phải!.. còn "giang đầu" là chỉ "tất cả các đầu sông"... quen gọi là cửa sông, nói nôm là "giang đầu", các cửa sông từ lục địa Á Châu, chảy về phía Đông- đổ nước ra Biển Đông thuộc ven biển Việt Nam- Vậy là đứng tại Đồ Sơn nhìn dọc kinh tuyến xuống phía nam, các cửa sông gọi chung là "giang đầu", đều nằm bên “hữu”...( hoàn toàn chính xác!)
-Câu 4/: "hoa đôi xứ ấy có chàng lý công"- "Hoa đôi" là gì? Vâng xin thưa ở trên là "ba ra ấp lại chầu sang"- vậy chầu sang phía "X*"- tức là chầu sang- nơi ấy "X*"= là xứ sở "hoa đôi". Ở đây ta phải hiểu thế nào là "hoa đôi", xin thưa "hoa đôi" chính là "Singgapor" Chữ "Singgapo" chuyển "âm tiệm biến" thành "song hoa- lại tiệm biến theo Việt ngữ nôm hiểu ra là "song hoa hay hai hoa" cũng thế!... Vâng, "hai hoa" tiếp tục đổi thành "hoa đôi". Vậy Công thức: "Sing-> thành "song"-> thành "hai" -> thành "đôi"... Tiếp theo "có chàng lý công"- cụ thể thế còn gì! thật rõ ràng chỉ xứ Singgapo có Ông Lý Quang Diệu... thật không thể trật khấc vào đâu được! vâng!.
-Câu 5: "thành trì vẽ khắp tứ tung"- câu này dễ hiểu là Sấm chỉ ra đất Singgapo là một thành phố phát triển, mà rất "tứ tung" tức rất "tự do"- vâng rõ rồi! Rất thú vị là cứ vẽ ra rồi xây cất.
-Câu 6/ "thông truyền trúc mọc hóa vồng xum xuê"- là ý nói việc kiến trúc xây dựng "Singga" trở thành một đầu mối giao thông rất phồn thịnh, thuận tiện, đầy đặn- ăm ắp- xum xuê! Mau chóng phát triển. Hiện nay Singga lấn biển mà xây dựng, Vị trí đất nước nhỏ bé này án ngữ eo biển Malaxca, thuận tiện việc cung ứng cho các tầu biển quốc tế qua lại nghỉ ngơi và bảo dưỡng... Rất nhiều con em người Việt Nam sang Sing để học tập và làm ăn tiếp cận nét văn minh của quốc đảo này...
-Câu 7/ "Ghập ghềnh sóng vỗ ba đào"- ý nói "Singgapo" xây dựng thành phố trên một vùng biển sóng to gió lớn, như có sức vượt lên... "sóng vỗ ba đào"... rất chính xác!
-Câu 8: "trúc mai xứ ấy ra vào cõi tiên"- "trúc mai xứ ấy" là sự xây dựng ở nơi biển gió ấy... làm nên thành phố lộng lẫy, xinh đẹp.. Người ta có thể ví Singgapo... phát triển nhanh như biến hóa, như cõi tiên, như mơ ước... thiên đư ờng..

-Giải nghĩa chung: Lời Sấm tiên tri nói về địa lý phong thủy- Ngài cho biết sự phát triển... chừng 450 năm sau... (biết rằng: Trạng Trình- sinh thời 1491-1585)... sẽ xuất hiện “vị trí” một “đất nước- thành phố” ở phía Nam- thuộc Đông Nam Á châu. Đó là Singgapo- và người dẫn dắt “đất nước” ấy là người họ Lý, không ai khác- là Ông Lý Quang Diệu- ấy “chàng lý công” như lời Sấm, rất cụ thể. Thì đấy! Sấm khái quát một vùng mênh mông khi Ngài- Vâng, Đức Trạng Trình, đứng tại Đồ Sơn nhìn ra biển xa... Từ "Bara" (Barasen- tức QĐ Hoàng Sa) ấp lại thấy muôn lớp sóng xô vỗ về... Ngài nhìn thấy bên kia... “bara ấp lại... chầu sang” bên này là xứ “hoa đôi”- khí dịch ấm áp… Một thế đứng bao quát cả một không gian trời biển mịt mờ bao la biêng biếc... xanh ngút ngát... bên trái “tả bạch truật” tức là Phi Luật Tân mà nay ta gọi là Philipill... bên phải “hữu giang đầu” là các đầu sông, cửa sông nước Việt, đầu mối của sự nhận nước từ trong lục địa chảy về phía Đông, ra Biển Đông... Phía sau nơi Ngài đứng “voi đồng phục sau” là Quảng Đông... nằm phía sau... Tầm mắt nhìn xuôi phía Nam.. thì sẽ thấy thành phố đất nước “Hoa đôi- Song hoa- Singgapo” và “chàng Lý công” cần cù, mẫn tiệp... dẫn dắt xứ Hoa Đôi- xây dựng “thông truyền trúc mọc” theo vồng theo sóng, thật “xum xuê” bắt mắt như biến hóa trong ánh sáng hào quang!”. Điều có thật đó là hiển nhiên của cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI... mà như giấc mơ... như ra vào “cõi tiên” vậy! Khám phá, lời tiên tri của Đức Trạng Trình thật sự chính xác cả địa danh và nhân vật! thật sự tài tình... Ta ướm mình theo cách nhìn của Ngài, "án tại Đồ Sơn" rõi ra Đông Nam càng thấy đất trời Nam Á thật hùng vĩ, và rất đỗi tự hào.../(Bí Mật lời Sấm “Ba- ra ấp lại chầu sang...” tiên tri của Trạng về “xứ hoa đôi”- góp phần làm sáng tỏ Sấm Trạng, lần đầu tiên được phám phá!- xin cống hiến cùng bạn đọc Cửa Biển- KTS Phạm Vũ Hội- 20-1-2012).
---------------------------------------------------------------
-Tư liệu:... (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)-Cộng hòa Singapore là quốc gia nhỏ nhất ở Đông Nam Á, nằm phía nam của bán đảo Malaysia, phía nam bang Johor của Malaysia và phía bắc đảo Riau của Indonesia. Singapore nằm cách xích đạo chỉ 137 km về hướng bắc. Người Việt Nam trước năm 1950 còn biết đến Singapore dưới tên Chiêu Nam và Hạ Châu. Singapore trở thành một nhà nước tự chủ năm 1959 với người đứng đầu nhà nước đầu tiên là Yusof bin Ishak và thủ tướng đầu tiên là Lý Quang Diệu sau cuộc bầu cử năm 1959. Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Mã Lai đã đạt được năm 1962;  Singapore trở thành một thành viên của liên bang Mã Lai cùng với Malaya, SabahSarawak như là một bang có quyền tự trị. Vào tháng 9 năm 1963. Singapore bị tách ra khỏi liên bang; Ngày 7 tháng 8 năm 1965 sau những bất đồng quan điểm chính trị chính phủ của bang và hội đồng liên bang tại Kuala Lumpur. Singapore tuyên bố độc lập vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, trở thành ngày Quốc khánh của Singapore.  Malaysia là nước đầu tiên công nhận nền độc lập của Singapore.Độc lập đồng nghĩa với tự túc, Singapore đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ. Với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Đồng Minh, trong nhiệm kỳ của mình từ năm 1959 đến 1990, Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn. Các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập. Singapore từ một nước đang phát triển trở thành một nước phát triển vào cuối thế kỷ 20.( ngu ồn Wikipedia).Năm 1990, Goh Chok Tong gi ữ chức thủ tướng th ứ hai. Năm 2004, Lý Hiển Long, con trai cả của Lý Quang Diệu, l àm thủ tướng thứ ba./
-------------------------------------------------------------------PVH*
(20-1-2012)

Một số hình ảnh về Singgapor ****





 


-------------------------------------------------------------------PVH*
***
MINH HOA CA KHUC:

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình- Lý Học- Càn Khôn- Chiêm Thời- “知驗讖記狀程-理學乾坤-占時“... ***

Chí chí.. chành chành..!
Ù à... ù ập..!
--------------------------
***


***
----------------------------------(Minh họa của KTS Phạm Vũ Hội)
Trích đoạn Sấm Trạng nguyên văn:

Vận lành mừng gặp tiết lành
Thấy trong quốc ngữ(*) tập tành nên câu..”
***
"破田天子出一國兩王雄
Phá điền thiên tử xuất, nhất quốc lưỡng vương hùng"
***
chí chí.! chành chành.!
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ba vương bảy đế
Bắc ghế đi tìm…
Hu... uà..!hù ập..!
Ba bị chín quai
Mười hai con mắt
Hay bắt trẻ con...
Ù à.. ù.. ập..!
Ngồi xập xuống đây..!"
Xin có thơ bàn rằng:
Câu Sấm thành câu đồng dao
Trò chơi con trẻ trải bao nhiêu đời
Ù.. à! Ù.. ập! trăng sáng đùa vui
thương manh áo rách nô cười thâu đêm
Chí chí.. chành chành!
Còn nhớ hay quên?
Khuyên ai hãy nhớ đừng quên...
nước non non nước ngả nghiêng hải hồ
Ai người sức cả vần cơ
khai sơn lấn bể cõi bờ mở mang
phải khi con cáo làm càn
cướp công xảo cuội nghênh ngang với đời
tượng đồng đắc đảo luồn chui
"chỉ vương" đáo vận nên trời tối đen
Dê đàn “dĩ thực vi tiên
"núi xương, sông máu" nổi chìm khốn thay
than ôi! non Việt bao ngày
lỗi công kẻ cất người xây cơ đồ,
trách người gà gật ngủ mơ
tấu chương nhòe nhoẹt độn thờ quỷ ma!./.
---------------------------------------(PVH*ltt*)
*
Ghi chú: 1/(*)-Chữ Quốc ngữ được sáng tạo bởi các nhà Truyền Giáo phương Tây, sau được Alexandr de Rhode (Cha Đắc Lộc) người Pháp, tổng hợp lập ra cách sử dụng gồm "24 chữ cái và 5 dấu giọng" hệ chữ latinh; lại soạn thành "vần bằng- vần trắc" để không thể mắc lỗi chính tả- thật sự tài tình, giúp dân Việt Nam ta mô tả mọi tư duy và hành động một cách chính xác; mau chóng tiếp thu tiến bộ thế giới, với cuốn Tự Điển đầu tiên (Dictionarium Anamitium Lusitanum et Latinum) do Ông lập cùng với hệ thống khoá mã ngữ âm toàn diện vững chắc- khoảng 1650 (từ Wikipedia).
-Điều Chiêm nghiệm ở đây là: Sấm Trạng (1491- 1586) đã nói đến "quốc ngữ" trước khi "" được "sáng tạo bởi các nhà truyền đạo phương tây" và được Triều Đình Nhà Nguyễn và chính quyền Bảo hộ Pháp đem chính thức áp dụng giảng dạy khoảng 340 năm (1920- 1925) sau Ngài:
Thấy trong "quốc ngữ- tập tành" nên câu
-chú ý hai từ “tập tành” tức ý nghĩa là: thứ chữ Việt kiểu latinh, nay ta gọi là "Quốc Ngữ" được sử dụng "dần dà" trở thành "phong hóa" ngôn ngữ- chính khí của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
2/(*)- "nhất quốc lưỡng vương hùng": tức một Nước Việt gồm hai Vương- Đàng Ngoài (Chúa Trịnh) và Đàng Trong (Chúa Nguyễn).
3/(*)- Thông sử chép năm 1600 (Canh Ngọ), Nguyễn Hoàng, sau khi đánh dẹp nội loạn Phan Ngạn, Ngô Đình Khuê, Bùi văn Khuê ở Nam Định được phong ấn Hữu tướng, Vua Lê cho đem các tùy tùng vào trấn thủ Thuận Hóa và từ đó Ông mở mang cơ đồ Nam Việt Nam.
-Điều chiêm giải ở đây là: Nguyễn Hoàng ra đi mở cõi vào năm Ngọ... Để khai khẩn mở nước "Đàng Trong" Nhà Nguyễn vì "neo người" đã theo kế sách các "mưu sĩ" cho lập các đoàn thuyền buôn cập mạn phía Bắc vào các đêm trăng bắt trẻ con ở các làng quê ven biển rồi bỏ chạy vào Nam nuôi nấng... tăng cường lực lượng Dân Nam... cho nên mới có câu Sấm báo trước sự việc... và trở thành câu Đồng dao ở khắp làng quê miền Bắc, mà cũng hình thành các trò chơi... "ù à.. ù ập ngồi xập xuống đây!" để tránh "ông ba bị chín quai"!?. Tuy nhiên thiên hạ đã không biết điều này, trò chơi của trẻ cũng rất vô tư khi hát câu "chí chí chành chành".
-Chiêm giải: Nhà Nguyễn cũng đúng kéo dài "Ba Vương thì phân mà kiến lập Bảy Đế- không kể việc truy phong..."  thiên hạ đến nay cũng mù mịt không thể phát nghiệm ra./
---------------------------------(500 năm nghiệm đúng quanh ta- Tri nghiệm- Chiêm thời- khảo cứu- KTS Phạm Vũ Hội)
---------------------------------------------------------
MINH HOA CA KHUC:

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2015

Mái đình- Cây đa- Bến nước...

Chùa Lũng Bắc- tên chữ là “Bảo Phúc Tự-寶福寺
Thuộc Xã Đằng Hải bây giờ Phường Đằng Hải- Quận Hải An Thành Phố Hải Phòng
***
-Chùa được phát công tích xây dựng khoảng thời Hậu Lê, chỉ còn lưu lại một vài tháp nhỏ. Nay cần được xây dựng lại để mở rộng
-Mô hình xây dựng: nhà 2 tầng, phía dưới làm các phòng nghỉ tăng, tiểu, làm việc, phòng ăn và bếp; giữa làm nơi thờ tổ, tập trung tín đồ tụng kinh, nghe giảng Phật pháp; phía trên là chùa chính thờ Phật, tòa Tam Bảo ở giữa, hai bên là ban Đức Ông và Mẫu. Tổng Diệt tích ~ 1200 M2. Chùa hình chữ Đinh, có cầu thang hai bên đi lên chùa. Ngày khởi công làm móng 4/10 Âm lịch năm Giáp Ngọ.
***

----------------------------------(Xưởng Kiến Trúc Tạo Hình Hải Phòng- KTS Phạm Vũ Hội)
***
Một số hình ảnh Hiện Trạng Khu Đất
 Và giai đoạn Thi công Thép Móng

 1/Khu đất xây dựng 
  


 2/Thi công thép móng:










***
------------------------------------------(Xưởng Kiến Trúc Tạo Hình Hải Phòng- KTS Phạm Vũ Hội).

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Tri nghiệm Sấm Ký Trạng Trình- Lý Học- Càn Khôn- Chiêm Thời- “知驗讖記狀程-理學乾坤-占時“... ***

Thế giới phức tạp... chu chuyển theo quái dịch... (Bí mật Cơ Dịch)
----------------------------------------
(Happy new year - Chuc mung Nam moi!)
-------------------------------------------------------------(minh hoa cua KTS Pham Vu Hoi)
***
Sấm Trạng Trình nguyên văn:
Kiền khôn phù tái khôn lường
Đào nguyên đỉnh phí quần dương tranh hùng
Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
Giải hoành sơn tam liệt ngũ phân
Ta hồ vô phụ vô quân
Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành...
*
天地循完陰陽愎- Thiên địa tuần hoàn âm dương phục
四方兵起四方彊- tứ phương binh khởi tứ phương cường
西暘境界西暘主- tây dương cảnh giới tây dương chủ
南國山河南國王- Nam quốc sơn hà nam quốc vương,
李鼎將懸嫌鼎重- Lý đỉng tương huyền hiềm đỉnh trọng
莫城欲築恐惶長- Mạc thành dục trúc khủng hoàng trường
橫山鹿走人人共- hoành sơn lộc tẩu nhân nhân cộng,
太嶺龍扉食感當- thái lĩnh long phi thực cảm đương(*)”.
*
--------------------------------------(Theo “Dịch quái đồ”- Đó là khoảng thời gian 1900-2050- PVH)
***
Có người thấy tôi nói về “âm dịch”... khó hiểu, hỏi: tại sao ông lại nói đến “hốc đen nhân gian?- 玄熇絪間”.
-Xin thưa: Tôi nghiên cứu Kinh Dịch lâu nay, không chú để soạn lời, mà cốt để xem xét sự vật; “Bát quái” định vị: Lưỡng Nghi- Đông Tây, thường được nói trong Kinh Dịch, "xin nôm hóa để bà bán rau cũng hiểu: “Cái Đực ~ Âm Dương”, bản thể là lửa dịch khí hạo nhiên của vũ trụ, mà xa xưa, các bậc tiền nhân nước Việt ta đã khái quát được! Từ Lộc Tục (chắc chắn!)- chính đấng Thuỷ Tổ người Việt, “Miếu Hiệu” thờ tự đời thứ nhất là Càn Chi- Kinh Dương Vương… cách ta nay khoảng 5000 năm!..
-“Quái dịch và thuật quái”, người đời sau gọi là Kinh Dịch (thực ra chính là "thuật Dịch học của người Kinh" (~dòng Lạc Việt), cũng là Đạo Dịch, đồng nghĩa~ Kinh Dịch) được xem là bảo quốc, được mã hóa khắc trên trống đồng, kiến thức đó, có thể thông suốt vũ trụ... Phải biết tường tận “Thuật quái” vốn phân biệt theo “bát quái” gồm “đầu mình và tứ chi” không khác thân thể của con người, cho nên dụng quái là dụng “hạo nhiên dịch khí” mà xét đoán thì không gì không rõ! Người xưa nói cúi xem “Hà Đồ(1)” ngẩng lên nhìn “Lạc Thư(2)” suy ngẫm là cái thâm ý muôn thuở của nhận thức!.
Ấy nên Sấm ở Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: “thụ căn diểu diểu, mộc biểu thanh thanh, hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành(*) - 受根杪杪,木表青青,禾刀木樂,十八子成”- lấy "mộc làm tượng mà hóa suy", thì trời đất vốn có căn bản; chính là nhịp sinh học thông suốt xưa nay vậy.! Câu trên mô tả “cây đời- dịch mộc” ý nôm xin hiểu là:
(*)Căn cốt, khó nhìn, ảo ảo
Hình đời, khó xem, mờ mờ
Chiến mạch liên miên, dục dậy
Mười tám vận nguyên, thì thành!
Hỏi- Làm sao biết được? xin thưa: (minh chứng ấy là lời Sấm ngàn năm tuổi trong Đại Việt sử ký toàn thư và Phả hệ- Miếu hiệu 18 Đời Hùng Vương đều theo "Bát Quái + Thiên Can = 18", âm hưởng quy chiếu rõ tới tận nay và mai sau..!)
-đã giải thích trong bài “Việt Phù kinh”, khái quát thời gian trong chớp mắt sẽ rõ! Lại giải thích trong bài “Bí mật lời Sấm ngàn năm tuổi”.
Hỏi- Nhận thức bát quái thế nào cho sáng tỏ?
-Trả lời: hãy hiểu ấy “là ngôn ngữ, lại là hình tượng”, chính là “ký ngôn” cô đọng nhất, như thể chữ viết vậy; có điều chữ viết là ký ngôn của người, thì dùng để viết mô tả tư duy hành động trạng thái... của xã hội con người; còn “quái ngữ” là ký ngôn của “sắc thể vũ trụ- 色體宇宙” dùng để "viết", mô tả dịch khí suy hóa, tiên luận, tri lượng... khái quát toàn bộ sự thăng giáng cát hung của trời đất, quen gọi là thiên cơ, vận trời, tác dịch lên thế gian... Cho nên người xưa từng nói "chỉ một hào âm- một hào dương, đặt chồng lên nhau, đảo ngược đảo xuôi... mà có thể lý ra muôn vật, ẩn chứa sự biến hóa cát hung từ khởi đầu đến kết thúc, mô tả rõ cách vật, không gian, thời gian, trạng thái, màu sắc, luận ra, viết ra, diễn giải ra thiên kinh vạn quyển, mà ý tứ không thể sai lệch được!"- Vạn vật nhân loại ẩn chứa ở đó, Đức Trạng Trình khi đánh giá cô đọng về "Dịch Kinh" có thể nói là đã trả lại cho người Kinh (Việt), cái phép của Đạo Dịch:
"tồng thác vạn thù kim cổ sự- 總死萬讎今古事
thống tông nhất lý thánh hiền thư- 統宗一理聖賢書
nhất chu khí vận chung nhi thủy- 一周氣運終而始
bác phục đô tòng thái cực tiên- 剝復都從太极先"
-Cũng như ta có thể nói, thế giới này chỉ là Đạo thường của Đực Cái - Càn Khôn... “thiên hạ âm dương tương địch đạo- 天下陰陽 將迪道; thế gian đực cái đạo thường, sinh sinh bản dịch khôn lường cát hung- 世間男女道常- 生生本易險諒吉凶”.
-ví dụ nói: “nhất âm, nhất dương sinh sinh chi vị dịch- 一陰一陽 生生之為易- thường đạo!” thì “để đơn giản cho cả bà bán rau cùng hiểu” hãy nói là, hoặc có thể nói là: “một đực, một cái sinh sinh ra muôn vạn sự- đạo trời” và hiểu ngay ra... vạn vật, loài người, thiên sự, gốc đều gồm “đực- cái” tác dịch qua lại mà sinh ra... từ cây cỏ hoa trái, muông thú, côn trùng vân vân..? cũng cần phải nhớ đạo trời thăng giáng, tiêu trưởng, sinh hoại, quấy đảo, tiến dẫn phát triển, luôn bao gồm cát hung- lành dữ!.
-Hỏi: căn cứ vào đâu nói “hốc đen nhân gian”?
-Trả lời: muôn vật đều có âm có dương, như ta biết bầu trời dương, thì sáng, lòng đất âm, thì tối, nhưng bầu trời cũng có khi tối, lòng đất cũng có khi sáng; hay như ta chỉ thấy ngày và đêm, sáng và tối; mắt thường ta thấy sự sống ban ngày, nhưng không thấy sự sống ban đêm, mà tính sôi động về đêm không kém... lại thấy điểm đen trong ánh sáng, chứ không thấy điểm đen trong bóng tối, ngược lại ta thấy điểm sáng trong bóng tối, chứ không nhận rõ điểm sáng trong ánh sáng... Cũng như bề mặt địa cầu, núi thì cao, biển thì sâu, nhưng con người không nhận ra hình thấp của núi, hốc sâu của biển... Ngày nay khoa học phát hiện dần, nhìn rõ hốc đen... lộ sự sống ở bất kỳ đâu trong vũ trụ... Con người chỉ nhận thức được trong "ngưỡng thức" của mình mà thôi..!; Ấy là nhìn rất cụ thể từ vật chất, còn "thần khí" của “vật chất” lại là lĩnh vực siêu hình, phải dùng tiên luận, tri lượng, biểu cảm "tượng khí : thông qua ký quái" mà xét đoán, lại muốn thấy cả cát khí hay hung khí thì là cả một vấn đề mênh mông bể sở. Nói rằng: “diểu diểu thanh thanh- ảo ảo sáng sáng” tức là có thể nhìn nhận được, nhưng cũng là mô tả thế! Ai có thể có khả năng ... mới ngẫm ra, mới khắc họa được.
-Loài người theo sinh thái vốn tự nhiên, nhân gian sôi động, phản nghịch từ nhận thức, cũng có điểm cao của tâm thức, cũng có điểm sâu của ý thức... nghịch với tâm thức tại điểm sâu nhất giới hạn của địa khí, chính là "hốc đen nhân gian- sinh ra hốc đen nhân thế"... Trong đồ hình của bát quái tám quẻ, “hốc đen” đặc trưng là "hào khôn, tượng quẻ khôn"- kết khí của hỏa, xuất phát từ “địa hỏa minh di”; “ý thức” nằm trong sâu thẳm của quẻ dịch này chính là “hốc đen nhân thế” vậy!; khí của nó như khói đen mà nóng, khi luẩn quẩn thì tai họa, nhuộm đen hầu khắp, tính hạo áp đặt, cuốn theo, gặp dương sáng thì khởi săc, tan dần biến dần, giáng hạ, thành phồn thực, hiệu dụng. Bán kính của “hốc đen nhân thế” được tính bằng phép dịch biến của sự khu trú phong thủy, hành tung trạng thái quen luẩn quẩn, lai lai khứ khứ tàng tàng; trong tầm ảnh hưởng của nó như ta muối dưa chua, sự lên men... làm cho muôn vật nhuộm đen.. "men" ấy là túi khí đen kịt của Địa Cầu, nằm đọng dưới chân Hymalaya, nhận khí lạnh từ phương bắc xuống mà đọng lại, vón cục lại, chìm xuống, chủ yếu định cư ở Phương Đông, hình nón giữa đồ hình Trung nguyên- Hoa Lục, ít thoát ra ngoài(*).
Bị chú:(*)- Minh chứng là Trung Quốc bành trướng, mở rộng lãnh thổ khá hiệu quả (!); trường hợp người phương bắc xâm lược Trung Quốc, không thể cải hóa Trung Quốc, trái lại sau một thời gian, chừng 70 năm, họ đều bị Hán hóa, trở thành người Trung Quốc như các tộc Nguyên Mông- Mãn Thanh... Cũng ví như bất kỳ ai chui vào hầm khai thác than đá, khi quay ra khỏi cửa hầm, tất cả đều đen nhẻm như nhau, lên mặt đất gặp gió, bụi đen sẽ bay dần; vì thế người Trung Quốc xa xứ, ly hương lâu ngày, họ sẽ gột rửa dần hạo nhiên “hốc đen nhân gian” và tráng kiện như các dân tộc khác. Nói vậy tôi muốn nhấn mạnh “hốc đen nhân thế” cũng có giới hạn bán kính của nó, mà cụ thể (tôi đã toán theo quái dịch) chỉ trong vùng Hoa Lục, xưa và nay mà thôi!. Nếu Trung Quốc, xâm lấn bất kỳ đâu ngoài vùng “hốc đen” họ chỉ có chiến thắng tượng trưng, không mau rút, sẽ bị đánh cho tơi bời nhục nhã! cửa trận bát quái luôn mở... "Hình Thể Phong Thủy" xưa nay là vậy, ai biết thì biết, không biết thì không, cũng khó mách bảo cho thiên hạ hiểu biết đầy đủ được "nhất quái nhất biến, nhất cát nhất hung chi dịch-一卦一變 一吉一凶之易". Lại phải biết thêm rằng: Người Trung Quốc xưa vốn cũng biết điều này, cho nên Sử Sách Tàu luôn coi mình (TQ) là “ở giữa- ở trung tâm, đầy tính ngạo mạn mà tự thị tự vấn?”- hạo nhiên hôc đen vận khí, vốn chỉ cuộn vào, lỳ lợm trùng trục, không mệt mỏi, mới coi xung quanh là “Cơ Chỉ" theo nghĩa "Phên Dậu- Da Lông- Mi Tóc” (đọc các sách sử nội ngoại biên đều rõ);họ khinh miệt các “giống ngoại biên" là “man- di- hung- dị” mà tự sướng, dẫn tới thái quá; không biết rằng xung quanh "hốc đen nhân thế" "quái lượng" nhạt dần, phong thủy đã khác hẳn, thanh sắc thái hanh quang minh rộ lên muôn vẻ. Đức hạnh của "Khôn Quái" trong Kinh Dịch được xác định "元亨利牝馬 之貞-nguyên hanh, lợi tẫn mã chi trinh"- ví nó như con ngựa cái!- chỉ có như vậy mới có thể giữ đạo, hành đạo- (Những người cầm đầu Trung Quốc cần hiểu được điều này: Tần Thủy Hoàng là một ví dụ, phía Bắc đắp Vạn lý trường thành; phía Nam ngưng tại dãy Lĩnh Nam- mới khám phá ra Uý Liêu là bậc Thông Dịch!. Xem đấy mà hiểu ra muôn vật đều có gốc tích của nó!! Cũng do đó ta biết Lý Thường Kiệt, một bậc anh kiệt trong sử sách nước Nam, hẳn cũng rất thông dịch, nắm chắc phần thắng mà hào khí đêm đêm ca hát, cốt để báo cho giặc biết: "Nam quốc sơn hà nam đế cư, hiệt nhiên định phận tại thiên thư, như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư..!- 南國山河南帝居.黠然定 分在天書.如何逆魯來 侵掠.女等行慳取敗!").
-Lời bàn: Điều này rất quan trọng trong “quái dịch- biến dịch” để quan sát Thế Giới- Thời Đại- Địa Chính Trị. Nhân đây bàn rằng có kẻ nói "Giấc mộng Trung Hoa"; thứ nhất: đã là "giấc mộng" thì khi "tỉnh lại" làm gì có thật, kiểu "Giấc Mộng Nam Kha(3)"?. Thứ hai, hẳn kẻ ấy mơ về thời thiên hạ bị y xâm lược cướp bóc và đánh cắp "trí huệ" của người ta, rồi hoang tưởng về vị trí "thiên triều"... ở thời đại "Dân Quyền" khi mà chính Trung quốc vẫn là một nước "Cực quyền" thì cái bóng che mát dưới chân mình, cho dân tộc mình còn chẳng có, huống hồ muốn phủ bóng ra khắp thiên hạ, lân bang lân quốc?; Thứ ba, nếu "Giấc mộng Trung Hoa" đồng nghĩa "xâm lăng bá chủ thế giới" thì chính dân tộc Trung Hoa cũng không bị mắc hợm..! khói bụi từ hốc đen nhân thế gặp gió nước thì tan và thế giới ngoại biên luôn sáng sủa và phóng khoáng...
-Sấm Trạng viết nguyên văn:
"日出殿上天下太平"
nhật xuất điện thượng, thiên hạ thái bình"
-Đức Trạng Trình tiên tri mọi sự đều xuất từ "Hà Đồ - Lạc Thư", trước tác "Thái Ất Thần kinh" của người, những khảo cứu mà tôi viết trên "vanaptr" luôn đúng như mực hệt.
-----------------------------------------------(Tri Nghiệm Sấm ký Trạng Trình Lý học- Càn khôn- Chiêm thời- Khảo cứu của KTS Phạm Vũ Hội)./